NGÀY 18 THÁNG SƯƠNG MÙ: MỘT KIỆT TÁC CỦA CHỦ NGHĨA MARX

Sự sụp đổ của nền Đệ nhị Cộng hòa Pháp ngắn ngủi vào tháng 12/1851 đánh dấu một trong những cuộc binh biến nhanh chóng và triệt để nhất trong lịch sử chính trị hiện đại. Ra đời từ cuộc Cách mạng tháng 2/1848, nền Cộng hòa dường như hứa hẹn một kỷ nguyên tiến bộ và dân chủ mới cho toàn châu Âu. Nhưng ánh hừng đông đó đã vụt tắt. Trong vòng chưa đầy bốn năm, chế độ cộng hòa dân chủ nhất trên Trái Đất đã bị lật ngược, trở thành chế độ độc tài thuần túy của Napoléon III.

“Ngày 18 tháng Sương mù của Louis Bonaparte” ban đầu được đăng dưới dạng loạt bài báo của Karl Marx ngay sau sự kiện này. Đây không chỉ là một tác phẩm kinh điển về lý thuyết của chủ nghĩa Marx mà còn là một trong những tác phẩm phân tích chính trị vĩ đại nhất từng được viết ra.

Chỉ qua bảy chương sách, Marx đã trình bày sơ lược về cách mạng và phản cách mạng giữa vòng xoáy của các sự kiện, những cá nhân và đảng phái đặc trưng cho thời kỳ đó. Không chỉ vậy, khi thực hiện công trình phi thường này, Marx đã giải quyết những câu hỏi lý thuyết mang tiếng vang vượt xa thế kỷ 19.

Vai trò của cá nhân trong lịch sử, bản chất của chủ nghĩa Bonapart và nhà nước tư sản, bản chất của giai cấp nông dân và mối quan hệ của họ với giai cấp công nhân, thậm chí cả bản chất của nền dân chủ xã hội; tất cả đều được Marx trình bày rõ ràng, tường tận. Điều này rất đáng chú ý khi ta xét đến trình độ phát triển của giai cấp công nhân khi đó.

Ngày nay, giữa thời kỳ mà những biến động thậm chí còn nhiều hơn so với giữa thế kỷ 19, việc tái bản công trình vĩ đại này của Marx là vô cùng quan trọng. Nhiệm vụ nắm chắc các bài học rút ra trong “Ngày 18 tháng Sương mù” chưa bao giờ cấp thiết hơn lúc này. Do đó, chúng tôi hy vọng rằng phần giới thiệu sau đây sẽ giúp các bạn làm quen với các lĩnh vực phân tích chính của Marx, và liên hệ các kết luận của ông với thế giới hiện đại.


CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ

Cuộc cách mạng năm 1848 đã tạo cơ hội đầu tiên cho Marx áp dụng cách tiếp cận duy vật về lịch sử vào những sự kiện đang diễn ra.

Cuộc đảo chính của Bonaparte năm 1851 là một bước ngoặt quyết định đối với công nhân, vì nó đặt ra những thách thức mới về lý luận chính trị cho phong trào cách mạng. Thách thức đầu tiên và được cho là quan trọng nhất liên quan đến việc lí giải làm sao mà Bonaparte lại dễ dàng vươn lên nắm quyền và khôi phục Đế chế.

Nhiều người tìm kiếm câu trả lời trong lý thuyết lịch sử về ‘Con người vĩ đại’, những người cho rằng sự sụp đổ của nền Cộng hòa là kết quả của ý chí không thể cản ngăn của Bonaparte. Ngược lại, những người khác tìm cách tước đi chiến thắng của Bonaparte bằng cách cho rằng nền Cộng hòa ngay từ đầu đã cầm chắc diệt vong, rằng sự trỗi dậy của Bonaparte đã nằm sẵn trong nền tảng xã hội Pháp.

Trớ trêu thay, quan điểm này cũng không nhất thiết phải mâu thuẫn với việc tôn thờ những cá nhân “vĩ đại”. Bản thân Bonaparte đã củng cố quan điểm này: coi việc khôi phục Đế chế là ‘Trời định’, và số phận của ông là hiện thực hóa nó. Và ít nhất là ở bề ngoài, các sự kiện dường như đã xác nhận giả thuyết đó.

Điểm giống nhau trong cả hai lời giải thích là chúng đều không giải thích được gì cả. Nếu các sự kiện được xác định bởi một số ‘tác nhân tự do’ trong lịch sử, những người vượt lên trên mọi dự đoán và kiểm soát; hoặc nếu chúng thật sự chỉ là sự sắp đặt của một số phận đã định trước; thì đâu là khác biệt? Cả hai cách giải thích đều không cho phép chúng ta học hỏi từ các sự kiện để tự mình can thiệp và thay đổi lịch sử.

Những quan điểm theo thuyết định mệnh này tạo vỏ bọc lý thuyết che đậy cho những người tự thấy mình đứng đầu các cuộc vận động cộng hòa và công nhân vào giai đoạn 1848-51. Họ giải thích rằng nếu họ không thấy trước được gì, thì đó là vì không có gì có thể thấy trước được; nếu họ không làm gì, thì đó là vì không có gì có thể làm được. Lời đáp của Marx về điều này được thể hiện trong những dòng nổi tiếng sau đây:

“Con người làm nên lịch sử của chính mình, nhưng không phải theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại.”

Cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Marx về lịch sử là nguyên tắc duy vật cho rằng những hoàn cảnh đó con người có thể hiểu được một cách khoa học. Do đó, cần phải tìm hiểu những hoàn cảnh đó để đặt các ý tưởng và hành động của các cá nhân trong bối cảnh thích hợp. Chỉ khi đó, chúng ta mới có thể hiểu được logic thực sự của các sự kiện và định hướng những nỗ lực của chúng ta để làm nên lịch sử. Điều này Marx đã đạt được trong “Ngày 18 tháng Sương mù”.


Cuộc cách mạng vĩ đại của Pháp đã quét sạch nhà nước chuyên chế cũ

ĐẤU TRANH GIAI CẤP

Vào tháng 2 năm 1848, trước thềm cuộc cách mạng ở Pháp, Marx và Engels đã tuyên bố với thế giới rằng: “Lịch sử của tất cả các xã hội tồn tại cho đến nay là lịch sử của các cuộc đấu tranh giai cấp.” Và điều quan trọng nhất trong số các điều kiện xã hội mà Marx phân tích trong “Ngày 18 tháng Sương mù” là các giai cấp khác nhau tồn tại trong xã hội Pháp năm 1848, cũng như cách mà lợi ích và cuộc đấu tranh của các giai cấp gắn liền với lợi ích đó đã hình thành nên các sự kiện chính trị.

Giai cấp thống trị trong xã hội Pháp vào thời điểm Cách mạng 1848 đương nhiên là giai cấp tư sản, tức là những người sở hữu tư bản dưới hình thức công nghiệp, đất đai và bộ máy tài chính cấp cao.

Cuộc cách mạng Pháp vĩ đại đã quét sạch hệ thống chuyên chế cũ và xóa bỏ những tàn tích cuối cùng của chế độ sở hữu đất đai phong kiến ​​trên khắp đất nước. Trong quá trình đó, cuộc cách mạng đã củng cố quyền ‘tự do’ tư hữu tư sản, không bị ràng buộc bởi các khoản đền bù phong kiến hay đặc quyền, tại nền tảng của nhà nước, dù dưới hình thức Cộng hòa (1792-1804), Đế chế (1804-1815), Chế độ bảo hoàng Bourbon, hoặc ‘Chính thống’, Chế độ quân chủ (1815-1830), Orleanist, hay Chế độ quân chủ ‘Tháng Bảy’ (1830-48).

Sự phát triển của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa không chỉ củng cố giai cấp tư sản công nghiệp còn tương đối non yếu ở các thị trấn, mà còn làm cho giai cấp địa chủ lớn trở nên “tư sản hoàn toàn” về bản chất. Ngay cả những quý tộc cũ, những người từng là ‘đẳng cấp thứ nhất’ của Chế độ cũ trước đây, những người đã trở về từ cuộc sống lưu vong sau thất bại của Napoléon, cũng đã trở thành một bộ phận của giai cấp tư sản. Còn những chủ đất không chuyển sang nền nông nghiệp tư bản chủ nghĩa đã sống dựa vào việc bòn rút một phần giá trị thặng dư do công nhân và nông dân tạo ra dưới hình thức địa tô.

‘Tầng lớp quý tộc sở hữu đất’ này có mối liên hệ mật thiết với ‘tầng lớp quý tộc tài chính’, tầng lớp này làm giàu cho bản thân bằng chi phí của tất cả các tầng lớp khác. Thông qua các khoản thế chấp đè bẹp nông dân, nạn đầu cơ tràn lan trên thị trường chứng khoán Paris, hay còn gọi là ‘Bourse’, và lãi suất đối với khoản nợ quốc gia ngày càng tăng, ‘ngân hàng trị’ như Marx gọi, đã đặt các xúc tu của nó ở mọi cấp độ của nền kinh tế.

Điều đáng lưu ý là đại đa số của giai cấp tư sản Pháp vào năm 1848 ủng hộ một chế độ quân chủ lập hiến, theo đường lối của Anh, chứ không phải một nền cộng hòa dưới bất kỳ hình thức nào. Dưới chế độ như vậy, giai cấp tư sản vẫn thống trị cũng như dưới chế độ cộng hòa. Nhưng sự hiện diện của một nguyên thủ quốc gia không do bầu cử, được thánh hóa bởi truyền thống hàng thế kỷ và dường như đứng “trên cả cuộc chiến” không chỉ làm mập mờ bản chất giai cấp thực sự của nhà nước, mà còn khiến quần chúng cảm thấy mông lung khi họ bắt đầu đấu tranh.

Trong cuộc Cách mạng tháng Hai, phe đối lập đáng kính của Đảng Tự do đã tuyệt vọng tìm cách tránh sự sụp đổ của chế độ quân chủ bằng cách dàn dựng việc thoái vị của nhà vua để nhường ngôi cho đứa cháu trai 9 tuổi. Điều này là một ví dụ thú vị về cách mà việc thay đổi quốc vương đơn thuần chỉ là làm thay đổi nhân vật cầm quyền, nhưng vẫn giữ nguyên nhà nước và cùng với nó là pháp quyền tư sản. Tương tự như vậy, nếu quốc vương can thiệp để làm suy yếu hoặc thậm chí lật đổ một chính phủ được bầu lên, mà chính phủ này tỏ ra không đáng tin cậy đối với giai cấp thống trị, thì trách nhiệm cho một động thái như vậy rõ ràng sẽ chĩa về phía vương triều, thay vì giai cấp mà nhà vua đại diện cho.

Tuy nhiên, điểm xung đột chính trong tầng lớp quân chủ tư sản là triều đại nào sẽ cai trị nước Pháp. Marx đã tìm thấy cơ sở cho cuộc đấu tranh Quixotic này của các đảng bảo hoàng cạnh tranh, ‘phái lập hiến’ và ‘phái Orlean’, trong các điều kiện vật chất và lợi ích khác nhau của các phe phái đó.

Trong khi các nhà tư sản công nghiệp, địa chủ và tài chính đều là thành phần của cùng một giai cấp ở chỗ: họ đều sống bằng giá trị thặng dư do quần chúng bị bóc lột tạo ra. Nhưng điều này chắc chắn không có nghĩa là họ có những lợi ích giống nhau. Dưới thời Bourbons, quyền bầu cử bị hạn chế và chỉ dành cho 5 vạn chủ đất giàu nhất ở Pháp. Các vị trí hàng đầu trong nhà nước bị chiếm giữ bởi các quý tộc và đại diện cấp cao của Giáo hội Công giáo.

Dưới thời Charles X (1824-1830), những gia đình quý tộc bị mất đất trong Cách mạng đã được đền bù hậu hĩnh. Nhưng ngay cả điều này cũng không làm hài lòng ‘Ultras’ trong quốc hội của nhà vua, những người đòi hỏi không gì khác hơn là bồi hoàn toàn bộ đất đai và tài sản của họ, phục hồi Thiên Quyền. Một viễn cảnh như vậy là không thể chấp nhận được không chỉ đối với đại bộ phận dân chúng mà ngay cả đối với phần lớn giai cấp tư sản Pháp – vì vậy, họ liên hiệp thành phái Tự do chống lại nhà vua vào những năm 1820.

Cuối cùng, cuộc đối đầu không thể tránh khỏi đã lên đến đỉnh điểm vào tháng 7/1830, và không phải lần đầu cũng như lần cuối cùng ở Pháp, chế độ quân chủ là kẻ thua cuộc. Nhưng những gì nảy ra sau “Ba ngày vinh quang” của tháng Bảy không phải là một nền cộng hòa dân chủ mà chỉ là một sự thay đổi triều đại, về bản chất tương tự như cái gọi là Cuộc cách mạng Vinh quang năm 1688 của Anh.

Như Marx giải thích trong “Ngày 18 tháng Sương mù”:

“Chế độ quân chủ lập hiến chỉ là biểu hiện chính trị của chế độ cha truyền con nối của các chúa đất, vì Chế độ quân chủ tháng Bảy chỉ là biểu hiện chính trị của chế độ cai trị bị chiếm đoạt của giai cấp tư sản. Do đó, điều ngăn cách hai phe không phải là bất kỳ cái ggọi là nguyên tắc nào, mà là điều kiện tồn tại vật chất của họ…”

Những cá nhân sinh ra trong hoàn cảnh đó cũng được thừa hưởng những truyền thống và hành trang tư tưởng hình thành trong quá trình phát triển của giai cấp mình. Và chính những tư tưởng này đã tạo nên một phần quan trọng trong hoàn cảnh mà những cá nhân này dùng để tạo nên lịch sử.

Tương tự như vậy, các cuộc đấu tranh lớn giữa đảng Tự do và Tory của Anh trong thế kỷ 19 về cơ bản là biểu hiện chính trị của các lợi ích xung đột giữa phe công nghiệp và địa chủ của giai cấp thống trị. Đối với tất cả những lời có cánh của họ trong nghị viện, sự chia rẽ cơ bản giữa hai đảng này cuối cùng đã dẫn đến tranh chấp về cách chia chác chiến lợi phẩm cướp được từ công nhân và nông dân trên thế giới.

Nhưng trong khi các cá nhân và phe phái khác nhau của giai cấp tư sản tham gia vào cuộc đấu tranh liên tục với nhau, điều này cũng không ngăn được họ cùng hành động với tư cách là một giai cấp thống nhất khi bị các giai cấp khác trong xã hội đe dọa. Đó là cơ sở cho ‘Đảng trật tự’ – cái tên được đặt cho liên minh xấu xa của hai phe bảo hoàng dưới thời Đệ nhị Cộng hòa.

Đánh giá theo các mục tiêu và nguyên tắc đã nêu của họ, sự hợp nhất như vậy là không thể. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với cuộc nổi dậy của giai cấp công nhân, lợi ích chung của họ với tư cách là một giai cấp sẽ vượt qua mọi chướng ngại khác. Điều này chứa đựng một bài học về ý thức giai cấp cho công nhân hiện nay: Mặc cho có sự thù địch rõ ràng gay gắt giữa hai đảng tư sản như Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ ở Hoa Kỳ, họ vẫn sẽ hình thành một mặt trận đoàn kết vững chắc chống lại giai cấp công nhân khi gặp thách thức nghiêm trọng đối với lợi ích của mình.


Theo cách rất giống với phong trào Hiến chương của Anh, công nhân đã đi đầu trong cuộc đấu tranh cho quyền bầu cử phổ thông.

GIAI CẤP CÔNG NHÂN

Đối lập với giai cấp tư sản Pháp năm 1848 là giai cấp công nhân non trẻ và tương đối nhỏ – giai cấp vô sản. Tầng lớp làm công ăn lương này là những người không có phương tiện kiếm sống nào khác ngoài việc bán khả năng làm việc của mình theo ngày hoặc theo tuần. Họ hầu như chưa tồn tại với tư cách một giai cấp trong cuộc Đại cách mạng 1789-93. Chỉ khi sự phát triển của nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa mở ra một thời kỳ cách mạng trong phương thức sản xuất thì giai cấp công nhân hiện đại mới bắt đầu thành hình.

Được tài trợ bởi các khoản vay khổng lồ của nhà nước, những năm 1840 chứng kiến ​​sự bùng nổ trong xây dựng đường sắt. Việc xây dựng đường sắt làm tăng nhu cầu đối với ngành than và luyện kim. Điều này nhất thiết tạo ra nhu cầu ngày càng tăng về nhân công lao động, kết quả là dân số ngày càng tập trung nhiều lại ở các thành phố lớn. Đến năm 1851, đã có 1.331.260 người được thống kê là làm việc cho ‘nền đại công nghiệp’, trên tổng dân số khoảng 36 triệu người.

Điều kiện sống và làm việc mà tầng lớp lao động mới ở Pháp phải đối mặt thật khủng khiếp, đến mức có thể so sánh với nỗi kinh hoàng mà Engels đã mô tả trong tác phẩm Tình cảnh giai cấp công nhân Anh. Công nhân thường phải làm việc 14 hoặc thậm chí 18 giờ một ngày mới đủ sống.

Việc thiếu nhà ở đồng nghĩa với việc người lao động và gia đình họ bị nhồi nhét trong những căn phòng nhỏ và buộc phải sinh hoạt trong những điều kiện tồi tàn nhất có thể tưởng tượng được. Điều kiện sống quá đông đúc và bẩn thỉu đã tạo điều kiện cho dịch bệnh lây lan, như dịch tả: cướp đi sinh mạng của 18.400 người chỉ riêng ở Paris trong giai đoạn 1831-32.

Chính trong thời kỳ lầm than và bất an này, các tổ chức đầu tiên của công nhân Pháp đã hình thành, cùng với việc phát triển ý thức rõ ràng về giai cấp mình. Trong cuộc nổi dậy lớn ở Lyon năm 1834, có thể nói là lần đầu tiên trong lịch sử nước Pháp, những người thợ dệt lụa đã đưa ra khẩu hiệu của họ với tư cách là một tầng lớp cụ thể – “công nhân”. Điều này đánh dấu một bước tiến về chất so với các truyền thống cấp tiến trước đây ở Pháp, chẳng hạn như Jacobinism, thường chỉ nói đến “nhân dân” 1 cách chung chung.

Khi giai cấp công nhân tiếp tục phát triển dưới chế độ quân chủ tháng Bảy, công nhân bắt đầu thành lập các hội bạn hữu, công đoàn, hợp tác xã và thậm chí cả các hội cách mạng bí mật. Các hội nhóm học thuật cũng được lập ra để thảo luận về lý thuyết chính trị và kinh tế. Phong trào này đã cung cấp môi trường thích hợp cho sự tăng cường của các lý thuyết xã hội chủ nghĩa và cộng sản khác nhau, có ảnh hưởng đáng kể đến cuộc cách mạng năm 1848. Không phải vô cớ mà Marx và Engels tuyên bố vào năm 1848 là: “Một bóng ma đang ám ảnh châu Âu: Bóng ma của chủ nghĩa cộng sản.”

Theo một cách rất giống với phong trào Hiến chương của Anh, công nhân đã đi đầu trong cuộc đấu tranh cho quyền bầu cử phổ thông đầu phiếu, mặc dù ở Pháp, điều này mang hình thức cộng hòa rõ ràng hơn nhiều. Nhưng một lần nữa, giống như những người phái Hiến chương và các phong trào công nhân trên khắp thế giới kể từ đó đến nay, họ cũng kết hợp chương trình dân chủ này với các yêu sách của chính họ.

Ngày làm 10 giờ, ‘quyền được làm việc’ – tức là quyền có việc làm đàng hoàng, được trả công xứng đáng cho tất cả mọi người – và thành lập công đoàn, nhằm kế hoạch hóa nền kinh tế để xóa đói giảm nghèo, đều được nêu ra bởi công nhân vào thời điểm chế độ quân chủ sụp đổ. Đối với giai cấp công nhân, dân chủ chính trị luôn là phương tiện để họ đạt được sự giải phóng xã hội chứ không phải là mục đích cuối cùng. Thực tế này sẽ có những ảnh hưởng cực kỳ quan trọng đối với cuộc cách mạng năm 1848 và hơn thế nữa.

Công nhân nhanh chóng nhận ra rằng nếu không có một tổ chức chính trị nào thì sẽ không thể thực hiện bất kỳ chương trình nào, và điều này đã dẫn đến ‘phong trào hội nhóm’ đầy cảm hứng phát triển mạnh mẽ từ tháng 3 đến tháng 6 năm 1848. Vào ngày 1 tháng 3, có khoảng 5 hội nhóm được biết đến sẽ họp ở Paris; nhưng vào ngày 15 tháng 3, đã có 59 hội nhóm. Đến giữa tháng 4, có 203 hội nhóm, trong đó 149 hội nhóm hợp nhất thành một liên đoàn duy nhất.

Các hội nhóm lấy tên và cảm hứng từ cuộc Đại cách mạng Pháp 1789-93, nhưng chúng có nội dung mang tính giai cấp rất khác nhau. Khác với các hội nhóm ban đầu, chúng bao gồm hàng chục nghìn công nhân, họp thường xuyên, đôi khi hàng đêm, để thảo luận về các nhiệm vụ của cách mạng. Marx mô tả các hội nhóm là “trung tâm của giai cấp vô sản cách mạng”, và thậm chí là “sự hình thành của một nhà nước công nhân chống lại nhà nước tư sản”.

Đáng buồn thay, sự trỗi dậy của các hội nhóm chỉ tồn tại trong thời gian ngắn. Sau cuộc bầu cử vào tháng 4, chính phủ bắt đầu hành động dứt khoát chống lại họ. Vào ngày 23 tháng 6, họ bị kích động tham gia vào một cuộc nổi dậy, trong đó có ít nhất 5 vạn quân nổi dậy có vũ trang với kết quả, hàng nghìn người thiệt mạng. Theo nhiều cách, nó là tiền thân của ‘tuần lễ đẫm máu’ khét tiếng từ ngày 21 đến ngày 28 tháng 5 năm 1871, khi Công xã Paris bị quân đội Versailles nghiền nát.

TIỂU TƯ SẢN

Giai cấp công nhân làm quân tiên phong trong phong trào cách mạng năm 1848, nhưng họ không phải là giai cấp duy nhất trong xã hội Pháp muốn lật đổ Chế độ quân chủ tháng Bảy, và họ cũng chưa phải đại diện chính cho phong trào cộng hòa.

Trên thực tế, đại đa số dân thành thị của Pháp vào năm 1848 thuộc tầng lớp mà Marx gọi là “tiểu tư sản”: những chủ sở hữu nhỏ sở hữu phương tiện sản xuất của riêng họ và làm việc cho chính mình. Thợ thủ công sở hữu xưởng riêng, chủ cửa hàng và các nhà báo, luật sư, bác sĩ và các thành phần thuộc địa vị khác chiếm phần lớn của tầng lớp này.

Chính tầng lớp tiểu tư sản cách mạng đã lãnh đạo Cách mạng Pháp trong giai đoạn triệt để nhất của nó, theo Công ước Jacobin năm 1793. Tuyên ngôn về Quyền của Con người và Công dân, được ban hành năm 1793 dưới áp lực của những người thuộc tầng lớp thấp ở Paris, bổ sung sự bình đẳng chính thức, pháp lý và chính trị của tuyên bố ban đầu năm 1789 với các yêu cầu tiến bộ hơn nữa, chẳng hạn như hỗ trợ cho người thất nghiệp và giáo dục thế tục cho tất cả mọi người. Đó là những điều cực kỳ tiến bộ vào thời điểm đó.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý đối với ngay cả những thành phần cấp tiến nhất của tầng lớp tiểu tư sản và truyền thống cộng hòa của nó là, khác với phong trào công nhân, các đại diện của tầng lớp tiểu tư sản chưa bao giờ đi xa đến mức thách thức quyền tư hữu. Rốt cuộc, bản thân những người tiểu tư sản cũng là những chủ sở hữu tài sản. Ví dụ, ưu tiên của “phái Núi”, đại diện cho chủ nghĩa cộng hòa tiểu tư sản dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, ưu tiên hình thức tối đa của nền dân chủ chính trị và bình đẳng pháp lý nhằm tấn công vào các đặc quyền và sự tham nhũng của đại tư sản cũng như hỗ trợ những người nghèo nhất.

Như Marx giải thích, vị trí được các đại diện chính trị của tầng lớp tiểu tư sản chấp nhận cuối cùng phản ánh vị trí giai cấp của nó. Điều thú vị là Marx mô tả tầng lớp tiểu tư sản là một “giai cấp chuyển tiếp”, bởi vì nó tạo thành một tầng lớp trung gian giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân, và các thành viên của nó liên tục vươn lên hàng ngũ của các nhà tư bản hoặc “rơi xuống giai cấp vô sản” bởi sự cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn.

Kết quả của vị trí trung gian này trong cuộc đấu tranh giai cấp, lợi ích loại trừ lẫn nhau giữa đại tư sản và vô sản, theo cách nói của Marx, là “đồng thời cùn mòn lẫn nhau” dưới hình thức lời kêu gọi chung đối với “nhân dân” nói chung, và những yêu cầu nhằm loại bỏ những thái quá tồi tệ nhất của chủ nghĩa tư bản trong khi vẫn giữ nguyên các mối quan hệ kinh tế của nó.

Một ví dụ điển hình của kiểu suy nghĩ này có thể được tìm thấy trong yêu cầu của Bernie Sanders về việc chia nhỏ các ngân hàng lớn thành các ngân hàng nhỏ hơn nhưng vẫn nằm dưới sự kiểm soát của quy luật tư bản chủ nghĩa. Tương tự như vậy, luận điệu “dân túy” của Pablo Iglesias và Podemos ở Tây Ban Nha có xu hướng không nhắm vào giai cấp tư bản, hay bất kỳ giai cấp nào nói riêng, mà đặt mục tiêu vào ‘la casta’ – tầng lớp đứng đầu bộ máy và lừa dối toàn bộ nhân dân, có lẽ bao gồm cả một số nhà tư sản nữa.

Đấu tranh giai cấp mà yếu đi về mặt lý luận cũng dẫn đến sự yếu đi của đấu tranh trong thực tiễn. Không ai trong số các thành viên của phái Núi ủng hộ cuộc nổi dậy của công nhân vào tháng 6/1848. Nhưng khi chính họ phải nổi dậy một năm sau đó, họ đã phải khởi nghĩa mà không có vũ khí, không có sự chuẩn bị và không có ý thức rõ ràng về những gì họ đang yêu cầu mọi người vì đó mà chiến đấu, ngoài một lời kêu gọi mơ hồ: “để bảo vệ hiến pháp”.

Cuộc ‘khởi nghĩa’ năm 1849 chắc chắn đi đến thất bại, và thất bại này càng làm suy yếu cả những người công nhân và tiểu tư sản, trong khi củng cố vị thế của Bonaparte.

Từ kinh nghiệm 1848-1851 ở Pháp và Đức, Marx và Engels đều kết luận rằng tiểu tư sản là giai cấp ít có khả năng nhất để đạt được ngay cả những nhiệm vụ cách mạng dân chủ cơ bản nhất, chứ chưa nói đến việc lãnh đạo một cuộc đấu tranh chống tư bản. Có lẽ sự chỉ trích gay gắt nhất của Marx trong “Ngày 18 tháng Sương mù” là chỉ trích ông dành cho các ‘nhà dân chủ’ tiểu tư sản, ông viết:

“Không đảng nào phóng đại phương tiện của mình hơn đảng dân chủ, không đảng nào tự huyễn hoặc và đánh giá tình hình một cách hời hợt hơn… Do đó, khi một cuộc đấu tranh sắp nổ ra, họ không cần xem xét đến lợi ích và lập trường của các giai cấp khác nhau… Họ chỉ cần đưa ra tín hiệu và người dân, với tất cả các nguồn lực vô tận của mình, sẽ nằm gọn trong tay những kẻ áp bức.”

Cuộc đấu tranh giai cấp hiện đại có rất nhiều ví dụ về sự tự huyễn hoặc bản thân này, được nhân cách hóa bởi Yanis Varoufakis, người tự cho mình là “erratic Marxist” (tạm dịch: Marxist thất thường), ở Hy Lạp. Được bổ nhiệm làm bộ trưởng tài chính trong bối cảnh nhiều nơi nổi dậy chống lại chính sách thắt lưng buộc bụng tàn bạo do EU và giai cấp thống trị của chính họ áp đặt lên quần chúng, Varoufakis đã đệ trình một “đề xuất khiêm tốn” về việc giảm nợ và ngay lập tức bị ‘ba ngôi’ của Liên minh châu Âu bác bỏ: IMF, ECB và Ủy ban châu Âu. Khi đề xuất này bị từ chối thẳng thừng, Varoufakis đã do dự và cuối cùng từ chức.

Từ kinh nghiệm này, ông kết luận rằng điều cần thiết là cần “nhiều dân chủ hơn” ở EU và hiện ông đang lãnh đạo Phong trào Dân chủ nhỏ bé ở Châu Âu tầm nhìn 2025. Còn ba năm nữa, nhưng có vẻ như ông khó có thể đạt được mục tiêu của mình. Tuy nhiên, điều này có lẽ không làm phiền ông Varoufakis lắm. Như Marx đã viết trong “Ngày 18 tháng Sương mù”:

“Trong mọi trường hợp, nhà dân chủ thoát khỏi thất bại ô nhục nhất một cách hoàn hảo như  trước khi anh ta bị kết tội, với niềm tin vừa mới giành được rằng anh ta nhất định sẽ chiến thắng…”

Cần chỉ ra là, Marx cho rằng các cá nhân có thể chấp nhận quan điểm của một giai cấp mà không nhất thiết thuộc về giai cấp đó trong điều kiện vật chất trực tiếp của họ. Như ông giải thích:

“Điều khiến họ trở thành đại diện của giai cấp tiểu tư sản chính là thực tế rằng trong tâm trí của họ, họ không vượt qua những giới hạn mà giai cấp tiểu tư sản không vượt qua được trong cuộc sống; hay nói cách khác: họ đối mặt với cùng các vấn đề và giải pháp mà lợi ích vật chất và vị trí xã hội mà giai cấp tiểu tư sản đang phải đối diện trong thực tế.”

Về lý thuyết, một nhà công nghiệp triệu phú có thể theo quan điểm của giai cấp tiểu tư sản hoặc của giai cấp công nhân. Do đó, có lẽ ngay cả những cá nhân có xuất thân tư sản cũng có thể có quan điểm chính trị vô sản nếu họ bày tỏ và đấu tranh phù hợp với lợi ích vật chất và vị trí xã hội của giai cấp công nhân. Bản thân Marx và Engels là một ví dụ nổi tiếng về hiện tượng này.

Hệ tư tưởng và hành động của các cá nhân rõ ràng không được quyết định một cách tự động và máy móc bởi nền tảng giai cấp của họ, cả về điều kiện sống và làm việc hiện tại, cũng như do ảnh hưởng từ quá khứ của gia đình. Chúng ta đã thấy bao nhiêu chính trị gia xuất thân từ “giai cấp công nhân” trong khi bỏ phiếu ủng hộ cắt giảm lương và phúc lợi xã hội?

Tuy nhiên, các tổ chức và truyền thống của các giai cấp khác nhau trong xã hội, đã phát triển và tiếp tục phát triển vượt ra ngoài các điều kiện vật chất của họ – thứ đang đối diện với họ như những khách thể độc lập và làm tiền đề cho sự tồn tại của họ. Trên quy mô lớn, điều này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng và hành động của hàng triệu người.

NÔNG DÂN

Ngoài giai cấp tiểu tư sản ở thành thị, một tầng lớp tiểu chủ khác là giai cấp nông dân, chiếm tuyệt đại đa số dân cư Pháp ở thời điểm năm 1848. Tầng lớp này cũng là nguồn lực ủng hộ quan trọng của Bonaparte, như Marx nhận xét rằng, tư tưởng bảo hoàng mà ông đề xuất và thiết lập đã được thực thi vì nó trùng khớp với tư tưởng đã có từ trước trong giai cấp nông dân.

Khi Bonaparte tìm cách hợp pháp hóa kết quả cuộc đảo chính của mình thông qua một cuộc trưng cầu dân ý vào ngày 20/12/1851; kết quả, tất nhiên là không nằm ngoài dự đoán. Toàn bộ đất nước được đặt dưới chế độ quân chủ chuyên chế, tất cả các đảng đối lập đã bị tiêu diệt. Và để đảm bảo an toàn, chính phủ còn thông báo cho tất cả các quan chức nhà nước rằng họ có còn giữ được công việc của mình hay không là phụ thuộc vào lòng nhiệt tình ủng hộ chế độ của họ.

Tuy nhiên, sự thật vẫn là có hàng triệu phiếu bầu chân thành ủng hộ cho Bonaparte. Phần lớn trong số này chắc chắn đến từ giai cấp nông dân. Có thể nói, nông dân thủ tiêu nền cộng hòa bằng lưỡi lê vào ngày 2 – 4/12/1851; thì đến ngày 20, lại cũng chính nông dân đã lập nên đế chế bằng lá phiếu của mình.

Trong một đoạn quan trọng của “Ngày 18 tháng Sương mù”, Marx đã chỉ ra lí do giai cấp nông dân dành sự ủng hộ cho Bonaparte, đó chính từ những điều kiện tồn tại của họ. Lối sống biệt lập và bảo thủ cố hữu của người tiểu nông đã khiến cho giai cấp này vừa là một giai cấp lại vừa không phải là một giai cấp dưới con mắt của Marx. Những người nông dân sống trong điều kiện vật chất tương tự nhau nhưng quan hệ của họ với nhau lại mang tính cục bộ địa phương. Chẳng hạn, không có tổ chức nông dân quốc gia hay đảng phái chính trị của nông dân nào có ảnh hưởng đáng kể.

Từ tình trạng phân tán như vậy, Marx cho  rằng giai cấp nông dân không thể được coi như một giai cấp độc lập. Nó không thể thống trị trực tiếp bằng quyền hành của mình. Do đó, ông đi đến kết luận: “ảnh hưởng chính trị của nông dân tìm thấy biểu hiện cuối cùng của nó trong quyền lực hành pháp mà xã hội phụ thuộc vào”.

Nhưng sẽ là một sai lầm nghiêm trọng nếu từ đó mà cho rằng giai cấp nông dân nói chung chỉ tạo thành một khối phản động vững chắc. Nếu đúng như vậy, cuộc cách mạng xã hội ở các quốc gia có đa số nông dân sẽ bị loại trừ, bao gồm cả cuộc Cách mạng Nga năm 1917. Trên thực tế, nông thôn phản đối cuộc đảo chính của Bonaparte còn ác liệt hơn thành thị. Nhà sử học Roger Price ghi chép rằng “có tới 70.000 người từ ít nhất 775 xã đã thực sự cầm vũ khí và hơn 27.000 người tham gia vào các hành động bạo lực”. Chính Marx đã giải thích rằng những gì Bonaparte đại diện là “giai cấp nông dân bảo thủ, không phải giai cấp nông dân cách mạng”.

Giống như cách nền cộng hòa tư sản vì để tự bảo vệ mình mà đã tước vũ khí của công nhân vào ngày 2/12/1851. Nền cộng hòa đã liên tục chiến đấu chống lại sự lan rộng của chủ nghĩa xã hội ở nông thôn. Nó đã biến giai cấp nông dân trở nên Bonapartist. Trong khi đó, cả giai cấp tiểu tư sản lẫn giai cấp công nhân đều không thể tìm ra một lối đi nào khác để thoát khỏi khủng hoảng này.

Như Trotsky đã giải thích vào những năm 1930, tiểu tư sản và nông dân có thể tìm thấy một nhà lãnh đạo cho mình trong giai cấp vô sản, nhưng:

“Muốn kéo giai cấp tiểu tư sản về phía mình, giai cấp vô sản phải giành được lòng tin nơi họ. Và để làm được điều đó, nó phải có niềm tin vào sức mạnh của chính mình.

“Nó [giai cấp vô sản] phải có một đường lối hành động rõ ràng và phải sẵn sàng đấu tranh giành chính quyền bằng mọi cách có thể. Được đảng cách mạng của nó khích lệ để tiến hành một cuộc đấu tranh quyết liệt và không khoan nhượng, giai cấp vô sản nói với nông dân và tiểu tư sản ở các thành phố:

“Chúng tôi đang đấu tranh là để giành chính quyền. Đây là đường lối của chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng thảo luận với bạn về những thay đổi trong đường lối này. Chúng tôi sẽ chỉ sử dụng bạo lực chống lại đại tư sản và tay sai; nhưng với các bạn, những người cùng khổ, chúng tôi mong muốn ký kết một liên minh trên cơ sở của các nguyên tắc nhất định.

“Nông dân sẽ hiểu. Chỉ có điều, họ phải có niềm tin vào khả năng giành chính quyền của giai cấp vô sản.”

Đáng tiếc thay, giai cấp nông dân Pháp chỉ bắt đầu hành động sau khi bộ phận tiên tiến và quyết đoán nhất của giai cấp công nhân đã bị đàn áp vào tháng 6/1848. Khi một bộ phận nông dân thực sự đi theo hướng cách mạng trong những năm tiếp theo, họ đã tìm kiếm sự dẫn dắt từ các phe phái cộng hòa và xã hội chủ nghĩa của đảng “Đỏ”, hay đảng dân chủ xã hội. Tuy nhiên, hết lần này đến lần khác, cơ hội liên minh đó đã bị các nhà lãnh đạo dân chủ xã hội vứt bỏ.

Khi cuộc đấu tranh ở nông thôn lên đến đỉnh điểm, với một số khu vực bị ban bố thiết quân luật, các nhà lãnh đạo dân chủ-xã hội lại luôn điều hướng cuộc đấu tranh của công nhân thông qua các kênh an toàn, hợp pháp, thúc giục những người theo họ hạ bệ Bonaparte tại thùng phiếu. Kết quả là, những nông dân cách mạng nhất đã bị cô lập và sự tức giận của tầng lớp nông dân đã được điều hướng theo lối phản cách mạng thông qua Bonaparte.

Ngày nay ở châu Âu, vấn đề về giai cấp nông dân và vai trò của họ trong chính trị phần lớn đã được giải quyết bằng quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa nông nghiệp. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều quốc gia mà giai cấp nông dân vẫn là một nhân tố quan trọng hàng đầu; trong đó nổi bật là Ấn Độ, quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới.

Phong trào đầy nhiệt huyết của nông dân Ấn Độ, bùng nổ vào năm 2020, là một ví dụ nổi bật về tiềm năng cách mạng của giai cấp nông dân hiện đại. Một mặt bởi gánh nặng từ các khoản nợ và mặt khác bởi sức ép của thị trường thế giới, hàng triệu tiểu nông đã đứng lên phản đối hàng loạt đạo luật do chính phủ BJP ban hành nhằm “mở cửa” ngành nông nghiệp. Phong trào thậm chí đã đạt đến quy mô nổi dậy vào ngày 26/1/2021, Ngày Cộng hòa của Ấn Độ, khi hàng chục nghìn nông dân tuần hành đến trung tâm Delhi, quét sạch cảnh sát cản đường và chiếm đóng Pháo đài Đỏ nổi tiếng.

Kinh nghiệm của nông dân Ấn Độ cho thấy rằng: nông dân không phải là trở ngại thường trực cho cuộc đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội; một bộ phận quan trọng của giai cấp nông dân có thể xoay chuyển hoàn toàn sang cánh tả và thậm chí theo hướng cách mạng, tạo thành một đồng minh mạnh mẽ cho giai cấp công nhân. Tiềm năng cho một liên minh như vậy tồn tại rõ ràng ở Ấn Độ, thể hiện qua cuộc tổng đình công lịch sử vào ngày 26/11/2020, khi 250 triệu công nhân ngừng việc cùng lúc với việc nông dân bắt đầu tuần hành đến Delhi. Nhưng tiềm năng này chưa được tận dụng triệt để.

Phân tích của Marx trong “Ngày 18 tháng Sương mù” cũng chứa đựng một lời cảnh báo cho những người lao động ở Ấn Độ cũng như toàn thế giới. Chúng ta không thể tự mãn mà cho rằng một bộ phận lớn nông dân Ấn Độ sẽ không nhanh chóng chuyển sang cánh hữu, nếu không tìm ra giải pháp cho cuộc khủng hoảng dựa trên lập trường giai cấp công nhân. Và cũng như ở Pháp năm 1848-51, trách nhiệm đối với nhiệm vụ lịch sử này cuối cùng sẽ thuộc về sự lãnh đạo của giai cấp công nhân và các tổ chức của nó.

ĐẢNG DÂN CHỦ XÃ HỘI

Sau thất bại của công nhân vào tháng 6 năm 1848, phong trào hội nhóm bị buộc phải lui vào hoạt động bí mật. Các hội nhóm và hội kín còn lại đã liên kết với phe cộng hòa cấp tiến của “phái Núi” để thành lập “đảng dân chủ xã hội”, đưa ra một danh sách chung các ứng cử viên cho một chương trình chung trên toàn quốc.

Trong điều kiện xã hội bất ổn ảnh hưởng đến mọi tầng lớp dưới thời Đệ nhị Cộng hòa, những người dân chủ xã hội đã thành công trong việc giành được hàng triệu phiếu bầu ở cả nông thôn và thành thị. Do đó, sự trỗi dậy của nền dân chủ xã hội Pháp và việc Bonaparte đàn áp nó vào năm 1851 đã cho Marx cơ hội để phân tích một hiện tượng chính trị mà ngày nay vẫn tiếp tục có ý nghĩa to lớn.

Việc thành lập một đảng dân tộc thực sự, lãnh đạo một tầng lớp rộng lớn gồm tất cả các giai cấp bị áp bức trong xã hội Pháp, với phe phái nghị viện đông đảo của riêng mình và thậm chí có được sự ủng hộ trong lực lượng vệ binh quốc gia và quân đội, sự ra đời của đảng dân chủ – xã hội như vậy là một bước tiến lớn hướng tới phong trào công nhân.

Trong thời kỳ bão táp cách mạng 1848-1851, các nhà chiến lược của giai cấp thống trị thậm chí còn lo sợ rằng những người dân chủ xã hội có thể nắm quyền. Ví dụ như tờ Kinh tế của Anh đã xuất bản một bài báo ngày 21/3/1850 đưa tin:

“Đúng là tiến bộ mà chủ nghĩa xã hội ở Pháp đạt được hàng ngày đang đe dọa tới tương lai. Những người phe ôn hòa hiểu rằng trước cuối năm tới, đảng đó sẽ giành được đa số áp đảo và có thể tuyên bố một nền cộng hòa dân chủ và xã hội chủ nghĩa.”

May mắn thay cho những người ‘phái ôn hòa’ của tờ Kinh tế, tiềm năng to lớn được chỉ ra đó của đảng dân chủ xã hội đã bị lãng phí.

Sau khi việc sửa đổi Hiến pháp bị hoãn lại bởi những người cộng hòa trong quốc hội, tất cả các bên đều thấy rõ rằng một cuộc xung đột sắp xảy ra. Bonaparte công khai chuẩn bị đảo chính, trong khi giới báo chí tư sản đáng kính lên tiếng phản đối Hiến pháp, một tờ báo phàn nàn:

“Các nhà dân chủ khẳng định: Chúng ta phải ở trong giới hạn của sự hợp pháp… Nhưng sự hợp pháp này – ai cũng trả lời rằng đó là nơi nguy hiểm… Thật vậy, hợp pháp này mang lại lợi ích gì cho chúng ta?”

Trong khi đó, các nhà lãnh đạo của đảng dân chủ xã hội, hay còn gọi là đảng “Đỏ”, tự mãn tuyên bố với những người ủng hộ rằng tất cả những gì họ cần làm là đợi đến ngày Chủ nhật thứ hai của tháng 5 năm 1852, ngày diễn ra cuộc bầu cử mới, khi đó họ sẽ chiến thắng trong cuộc bỏ phiếu kín.

Đáng buồn thay, ngày vui đó không bao giờ đến. Vào tháng 11, Bonaparte bắt đầu chiến dịch bắt giữ phủ đầu những người phái cộng hòa và xã hội chủ nghĩa, và vào ngày 2 tháng 12 năm 1851, ông cho binh lính xuống đường và giải tán những gì còn lại của quốc hội. Chính cuộc đảo chính này Marx gọi là “Ngày 18 tháng Sương mù của Louis Bonaparte”, liên quan đến ngày theo lịch cộng hòa của Pháp mà Napoléon I lên nắm quyền vào năm 1799.

Dẫu có trong tay mọi phương tiện, nền dân chủ xã hội xét trên mọi mặt đều tỏ ra không có khả năng lãnh đạo quần chúng giành chính quyền. Marx đã xác định nguyên nhân quan trọng nhất của sự thất bại này không chỉ ở những ý tưởng sai lầm hay tính cách của những người lãnh đạo, mà còn do mâu thuẫn giai cấp ngay tại trung tâm của chính nền dân chủ xã hội: sự lệ thuộc của đảng vô sản vào sự lãnh đạo của giai cấp tiểu tư sản, và sự hạn chế của cuộc đấu tranh nhằm biến đổi xã hội “trong giới hạn của giai cấp tiểu tư sản”.

Từ sự thất bại của phái Núi vào tháng 6 năm 1849, Marx giải thích:

“Tính chất đặc biệt của nền dân chủ xã hội thể hiện ở chỗ các thể chế dân chủ -cộng hòa được yêu cầu như một phương tiện, không phải để xóa bỏ hai thái cực, tư bản và lao động làm thuê, mà là làm suy yếu và điều hòa sự đối kháng giữa chúng.”

“Điểm cách mạng” (revolutionary point) đã bị loại bỏ khỏi các yêu cầu xã hội của người lao động và thay vào đó, họ được định hướng theo các kênh an toàn hơn, ‘hợp pháp’ hơn. Vì vậy, bất cứ khi nào có khả năng xảy ra một cuộc đụng độ quyết định giữa nền cộng hòa tư sản và quần chúng thì điều mà những người được gọi là các nhà lãnh đạo Đảng “Đỏ” làm lại là kìm hãm cuộc đấu tranh, dù cho cố tình hay vô ý.

Một tuyên bố như vậy có thể được áp dụng cho bất kỳ đảng dân chủ-xã hội hiện đại nào ở châu Âu, chẳng hạn như Syriza ở Hy Lạp, hoặc thực sự cả phong trào ‘Xã hội Dân chủ’ ở Hoa Kỳ, đã nổi lên trong chiến dịch tranh cử Tổng thống đầu tiên của Bernie Sanders.

Điều hợp nhất sự đa dạng của các hình thức chính trị này: mỗi hình thức có chương trình, lịch sử và đặc điểm dân tộc riêng, chính là điều mà Marx đã xác định 170 năm trước: Cụ thể là sự kết hợp giữa cải cách ‘xã hội chủ nghĩa’ với việc duy trì quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và quan hệ tư sản. Đây là giới hạn mà những người chủ trương cải cách sẽ không thể vượt qua.

Khi cuộc chinh phục hoặc thậm chí bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân không thể được thực hiện mà không đe dọa chính hệ thống tư bản chủ nghĩa, thì ngay cả những nhà lãnh đạo cải cách cấp tiến nhất cũng sẽ khiến công nhân thất bại hoặc tệ hơn là quay lưng lại với họ. Chính vì lý do này mà Trotsky đã cảnh báo, “Sự phản bội là cố hữu trong chủ nghĩa cải cách.”

Ở giai đoạn đầu quá trình phát triển của giai cấp công nhân Pháp, cũng như sau khi các nhà lãnh đạo kiệt xuất nhất của giai cấp vô sản bị bắt và đày ải sau Ngày tháng Sáu, quyền lãnh đạo phong trào sẽ rơi vào tay những người tiểu tư sản.

Từ kinh nghiệm của những cuộc đấu tranh tiếp theo và những bài học khắc nghiệt, Marx tin tưởng kỳ vọng vào một “đảng thực sự cách mạng” sẽ được rèn giũa bởi giai cấp công nhân. Nhưng ông nhấn mạnh rằng một đảng như vậy phải luôn duy trì sự độc lập giai cấp của mình, bác bỏ bất kỳ sự “đoàn kết” nào mà theo đó “những yêu sách của giai cấp vô sản không được chấp thuận chỉ vì để giữ gìn nền hòa bình thân yêu.”

Marx không hề bác bỏ một cuộc đấu tranh chung với các tầng lớp cấp tiến của giai cấp tiểu tư sản và nông dân. Trên thực tế, ông coi những điều này là hoàn toàn cần thiết cho chiến thắng của giai cấp công nhân ở bất kỳ quốc gia nào mà các giai cấp đó chiếm ưu thế. Nhưng ông vẫn tin rằng chừng nào phong trào công nhân còn là “phần phụ của nền dân chủ tư sản chính thức” thì nó sẽ không bao giờ giành được chính quyền.

Nhu cầu về một đảng xã hội chủ nghĩa mạnh mẽ, độc lập và thực sự của giai cấp công nhân vẫn là một trong những cuộc đấu tranh cấp bách nhất của thời đại chúng ta. Nhiệm vụ này đặc biệt cấp bách ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, quốc gia hùng mạnh nhất trong tất cả các nước tư bản chủ nghĩa, nơi mà phong trào công nhân vẫn bị bịt miệng và bị ràng buộc vào guồng máy Đảng Dân chủ thối nát và tham nhũng. Thật vậy, sẽ không quá lời khi nói rằng cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân Mỹ cho chính đảng của họ sẽ định hình số phận của toàn thế giới.


Các nhà dân chủ xã hội đã thành công trong việc giành được hàng triệu phiếu bầu ở cả nông thôn và thị trấn

NHÀ NƯỚC

Trong “Ngày 18 tháng Sương mù”, Marx mở rộng phân tích giai cấp của mình sang bản chất của nhà nước. Ngay từ năm 1848, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đã giải thích rằng nhà nước nói chung là một công cụ thống trị giai cấp và rằng giai cấp công nhân phải “chiến thắng trong cuộc đấu tranh dân chủ” để nắm lấy chính quyền và sử dụng nó nhằm thực thi “sự xâm nhập chuyên quyền vào quyền tư hữu”. Nhưng câu hỏi về quyền lực chính trị này chính xác là gì và nó được sử dụng như thế nào thì vẫn còn mơ hồ và trừu tượng.

Trong phong trào xã hội chủ nghĩa ở Pháp bấy giờ, khuynh hướng chủ đạo là coi hình thức dân chủ cộng hòa là công cụ để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự thất bại của lý thuyết này trong thực tế đã được cuộc Cách mạng 1848 chứng minh.

Marx giải thích rằng ngay cả nền cộng hòa dân chủ nhất vẫn là “nền độc tài vô hạn của một giai cấp đối với các giai cấp khác”. Bên dưới sự bình đẳng chính trị trừu tượng của quyền phổ thông đầu phiếu là một bộ máy quan liêu và quân đội khổng lồ, những lực lượng không bao giờ phải chịu trách nhiệm trước “nhân dân”, được xây dựng và hoàn thiện liên tục cùng với sự phát triển của chính nền thống trị tư sản. Tất cả những điều này không thể tách rời nhau bằng bất kỳ cuộc bầu cử nào.

Do đó, điều mà Marx kết luận là việc giai cấp công nhân giành lấy chính quyền sẽ phải liên quan đến việc lật đổ chính nền cộng hòa tư sản và thủ tiêu nhà nước hiện tồn. Trong chương cuối của “Ngày 18 tháng Sương mù”, ông viết:

“Cuộc cách mạng dù sao vẫn triệt để. Nó vẫn đang du hành qua luyện ngục. Nó thực hiện công việc của mình một cách có phương pháp… Đầu tiên nó hoàn thành quyền lực nghị viện để có thể lật đổ nó. Khi đã đạt được điều này, nó hoàn thành quyền hành pháp, giảm nó xuống biểu hiện thuần túy nhất, cô lập nó, đặt nó chống lại chính nó như mục tiêu duy nhất, nhằm tập trung tất cả các lực lượng hủy diệt nó.”

Không thể nói chính xác điều gì sẽ xảy ra sau sự sụp đổ của nhà nước tư sản, vì những nỗ lực của công nhân nhằm thành lập nhà nước của riêng họ đã bị thất bại. Marx xác định “nền chuyên chính của giai cấp vô sản” trái ngược với chế độ chuyên chính của giai cấp tư sản như khái niệm chung của ông về nhà nước của công nhân, và chỉ ra rằng các hội nhóm của công nhân là một hình thức phôi thai, là một dấu hiệu cho thấy tiềm năng của hình thức nhà nước này. Dự đoán này đã thành hiện thực vào ngày 18/3/1871, khi công nhân Paris nắm quyền kiểm soát thành phố; và do hoàn cảnh yêu cầu, họ đã tạo ra các cơ quan riêng của mình để điều hành xã hội, dù chỉ vỏn vẹn vài tuần.

Bản thân Marx không quên bài học của Công xã. Tháng 5/1871, trong khi những công nhân anh dũng của Paris vẫn đang đấu tranh cho cuộc sống và giai cấp của họ, Marx đã dựa trên phân tích của mình trong “Ngày 18 tháng Sương mù”, để giải thích rằng “giai cấp công nhân không thể đơn giản đoạt lấy bộ máy nhà nước có sẵn và sử dụng nó vì mục đích riêng của mình”. Mà đi xa hơn, ông viết:

“Lời kêu gọi ‘cộng hòa xã hội chủ nghĩa’ mà giai cấp vô sản Paris đã khởi xướng trong Cách mạng tháng Hai, mới chỉ thể hiện một khát vọng mơ hồ về một nền cộng hòa không chỉ thay thế hình thức quân chủ giai cấp thống trị, mà còn muốn thủ tiêu chính giai cấp thống trị. Công xã là hình thức tích cực của nền cộng hòa đó.”


Khi Cavaignac đàn áp công nhân Paris, ông ta làm như vậy theo lệnh của toàn thể quốc hội và nhân danh toàn bộ “nền văn minh” tư sản

CHẾ ĐỘ CỦA BONAPARTE

Như Marx đã giải thích, nhà nước xét cho cùng là một công cụ đàn áp – các cơ quan vũ trang, tòa án, nhà tù, v.v. – bảo vệ tài sản và đặc quyền của giai cấp thống trị, và giữ cho cuộc đấu tranh giai cấp nằm trong khuôn khổ của trật tự. Nhưng có thể có những giai đoạn trong lịch sử mà lực lượng đàn áp này – quân đội, cảnh sát và bộ máy quan liêu nhà nước – tỏ ra độc lập đối với giai cấp thống trị mà chúng đang phục vụ.

Từng có một số trường hợp như vậy trong lịch sử của xã hội có giai cấp, mỗi trường hợp có nền tảng xã hội riêng biệt, chẳng hạn như chế độ của Caesar. Một ví dụ khác được Engels xác định là chế độ chuyên chế vào cuối thời Trung cổ. Trong xã hội tư sản, hiện tượng này được gọi là ‘Bonapartism’, theo tên của Napoléon I và Đệ nhất Đế chế Pháp.

Một trong những đóng góp lý luận quan trọng nhất của “Ngày 18 tháng Sương mù” là việc Marx phân tích hiện tượng lịch sử quan trọng này một cách chặt chẽ, dựa trên sự nổi lên của cháu trai Napoléon, Napoléon III, hay Louis Bonaparte.

Đặc điểm rõ ràng nhất của chế độ Bonapartist là đàn áp chính trị bằng sức mạnh của cảnh sát và quân đội. Nhưng sự đàn áp bản thân nó là không đủ để định nghĩa cho chế độ Bonapartism, vì tất cả các nhà nước trong lịch sử cuối cùng đều sử dụng sự đàn áp để bảo vệ lợi ích của chính nó, như Marx đã lưu ý khi bàn đến nền Đệ nhị Cộng hòa.

Ví dụ, trong thời chiến, ngay cả nhà nước tư sản dân chủ nhất cũng có thể hạn chế quyền bầu cử, quyền hội họp và quyền đình công; và thường sẽ kiểm duyệt hoàn toàn báo chí, lấy lí do là dành nguồn lực hỗ trợ cho “nỗ lực chiến tranh”. Tương tự như vậy, tình trạng phong tỏa do Tướng Cavaignac áp đặt từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1848 đã đặt một vị tướng không qua bầu cử lên đứng đầu cơ quan hành pháp, bắt giữ các nhà lãnh đạo của công nhân và đặt ra những hạn chế nghiêm ngặt đối với quyền tự do hội họp và báo chí xã hội chủ nghĩa.

Marx rút ra một sự khác biệt quan trọng giữa chế độ đàn áp này và chế độ của Bonaparte, ông viết:

“Cavaignac không phải hiện thân của chế độ dùng thanh kiếm thống trị xã hội tư sản; ông là đại diện cho sự thống trị của giai cấp tư sản bằng thanh kiếm.

Khi Cavaignac đàn áp công nhân Paris dưới sự chấp thuận toàn thể quốc hội và nhân danh toàn bộ “nền văn minh” tư sản. Vì sự tận hiến này, ông đã được các đại diện của giai cấp tư sản và quốc hội tung hô trên báo chí như “vị cứu tinh của xã hội”. Về điểm này, chế độ độc tài của Cavaignac cơ bản không khác với bất kỳ nhà nước tư bản nào, vì xét cho cùng, chế độ này không khác gì một công cụ đàn áp nằm trong tay giai cấp thống trị.

Bất ngờ thay, vào ngày 4/12/1851, quân đội của Bonaparte cố tình bắn vào nhà của những nhà tư sản đáng kính trên Đại lộ Montmartre. Engels báo cáo rằng Bonaparte thậm chí đã ra lệnh cho binh lính tấn công “những quý ông mặc lễ phục” thay vì những công nhân mặc áo trơn. Không chỉ các đại biểu xã hội chủ nghĩa mà ngay cả những người theo Đảng Tự do cũng bị bắt, và tất cả báo chí đều bị nhà nước đóng cửa hoặc kiểm duyệt.

Làm thế nào mà cơ quan hành pháp của nhà nước có thể giành được mức độ độc lập như vậy đối với giai cấp thống trị và các đại diện của nó trong quốc hội? Tất nhiên, câu trả lời cho câu hỏi này có thể được tìm thấy trong chính cuộc đấu tranh giai cấp. Trong điều kiện xã hội có nhiều bất ổn, đấu tranh giai cấp và cách mạng gay gắt, hoạt động của chế độ nghị viện ngày càng trở nên khó khăn. Với mỗi sự trỗi dậy của quần chúng, giai cấp thống trị và các đại diện chính trị của nó không có lựa chọn nào khác ngoài việc dùng đến biện pháp đàn áp vũ trang của nhà nước, như chúng ta đã thấy trong chế độ Cavaignac.

Hơn nữa, với mỗi bước tiến của quần chúng cấp tiến trong quốc hội, giai cấp tư sản càng cố hạn chế và làm suy yếu quyền lực của cơ quan lập pháp nhà nước, cũng như bất kỳ cơ quan nào khác đã bị ‘ảnh hưởng’ bởi cuộc cách mạng. Trong trường hợp của nền Đệ nhị Cộng hòa, thực tế không phải Bonaparte ra lệnh, mà là đa số nghị viên của Đảng Trật tự đã bỏ phiếu bắt giữ các nghị sĩ Đảng Đỏ, giải tán Lực lượng Vệ binh Quốc gia, và cuối cùng bãi bỏ chính quyền phổ thông đầu phiếu. Từng bước từng bước, các đại biểu tư sản đã làm suy yếu vị thế của chính họ trong mối quan hệ với cơ quan hành pháp và người đứng đầu cơ quan này, Bonaparte.

Trong khi đó, Bonaparte đã bắt đầu tổ chức lực lượng đấu tranh riêng của mình từ cái mà Marx gọi là “giai cấp bị lãng quên”, hay “vô sản lưu manh”, dưới tên gọi “Hội ngày 10 tháng 12”. “Hội nhân đạo” này thực sự là một đội quân tư nhân gồm những tên côn đồ đánh thuê, thường được sử dụng để phá hoại một cách thô bạo các cuộc họp của đảng cộng hòa, thường là dưới sự bảo kê của cảnh sát. Ở nhiều khía cạnh, chúng là tiền thân của bọn Áo nâu của Hitler.

Với việc cảnh sát và quân đội ngày càng nằm dưới sự kiểm soát của Bonaparte, sự kháng cự từ nhà nước tư sản ‘đáng kính’ gần như không có. Lực lượng duy nhất có thể đánh đuổi những tên côn đồ này khỏi đường phố là quần chúng cách mạng. Nhưng với việc các hội nhóm công nhân bị cấm và Lực lượng Vệ binh Quốc gia dân chủ bị giải tán, tất cả các tổ chức có khả năng tiến hành cuộc chiến này đã bị chính nền cộng hòa tước vũ khí dưới danh nghĩa thiết lập “trật tự”.

Dần dà, Bonaparte cảm thấy bản thân an toàn đến mức có thể lấn át đa số trong nghị viện và bổ nhiệm các bộ trưởng mà không cần bất kỳ sự ủng hộ nào của nghị viện. Tuy nhiên, trước những khiêu khích rõ ràng này, Đảng Trật tự đã không làm gì cả. Lý do cho điều này là họ có thể là những nghị sĩ, nhưng trên hết họ vẫn là những người tư sản, và họ nhận ra rằng cách duy nhất để ngăn chặn Bonaparte là tập hợp quần chúng xung quanh mình thành một lực lượng chiến đấu chống lại quân đội.

Một hành động như vậy sẽ đồng nghĩa với việc trang bị vũ khí cho chính những công nhân Đảng Đỏ, tiểu tư sản và nông dân; chính những người đã bị tước vũ khí và bắt giữ trong hai năm qua. Đối mặt với một viễn cảnh như vậy, không có gì ngạc nhiên khi Đảng Trật tự coi Bonaparte là kẻ xấu nhưng đỡ xấu xa nhất trong những kẻ gây hại cho mình.

Trotsky đã mô tả một hiện tượng tương tự ở Đức dưới chính phủ Brüning và Schleicher trước khi Hitler nổi lên, và ở Pháp dưới chính phủ Gaston Doumergue vào năm 1934. Ông viết:

“Đúng là giống như chính phủ Brüning-Schleicher lúc đương nhiệm, chính phủ Doumergue thoạt nhìn có vẻ như cai trị với sự đồng ý của quốc hội. Nhưng đó là một quốc hội đã bị tước quyền, có phản kháng thì chính phủ cũng phớt lờ. Nhờ sự cân bằng tương đối giữa phe phản cách mạng trong thế tấn công và phe cách mạng trong thế tự vệ, nhờ thế hòa hoãn tạm thời giữa họ, trục quyền lực đã được nâng lên trên các giai cấp cũng như các đại biểu nghị viện của họ.”

Một kịch bản tương tự có thể được nhìn thấy trong những năm sau của nền Đệ nhị Cộng hòa, đặc biệt là sau khi bãi bỏ phổ thông đầu phiếu. Quốc hội đã thoái vị. Để đối đầu với Bonaparte, điều duy nhất mà quốc hội có thể làm là tìm ra một ‘đối thủ xứng tầm’: Changarnier. Nhưng Bonaparte, người đang nắm trong tay quân đội, và với hơn 5 triệu phiếu bầu, dễ dàng trở thành ứng cử viên được ưu ái trong cuộc tranh cử.

Nhưng cần phải đặt câu hỏi, nếu Changarnier thắng thì kết quả sẽ ra sao? Rất có thể, nó sẽ mở đường cho một hình thức quân chủ khác, có lẽ không phải là sự khôi phục của Đế chế, mà là một chế độ độc tài phản động với mục đích cuối cùng là duy trì chế độ quân chủ. Đây chắc chắn là điều người dân không mong muốn.

Marx đã mô tả chi tiết quá trình Bonaparte ngày càng trở nên tự tin hơn về bản thân trong các cuộc đụng độ với quốc hội. Giống như một con cờ bạc cừ khôi, ông ta nhìn thấu những trò bịp bợm, những bài phát biểu và phản đối suông của các đại biểu. Ông ta đã đặt cược vào đề xuất sửa đổi hiến pháp. Và khi thiểu số cộng hòa trong quốc hội phủ quyết việc sửa đổi, phe thống trị của giai cấp tư sản bên ngoài quốc hội quay sang Bonaparte với thái độ ghê tởm đối với quốc hội. Chỉ khi đó Bonaparte mới sẵn sàng tiến hành cuộc đảo chính của mình.

Do đó, sự trỗi dậy của Bonaparte không chỉ đơn giản là sản phẩm của những hành động của chính ông ta mà còn là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh của một bên là Đảng Trật tự và bên kia là sự phản kháng của quần chúng. Sự tự tin và quyền tự do hành động của ông tăng lên tỷ lệ thuận với sự cô lập của đa số nghị viên và nỗi sợ hãi quần chúng của họ.

 

LIỆU BONAPARTE CÓ THỂ BỊ NGĂN CẢN?

Nhìn vào sự trỗi dậy của Bonaparte từ đầu đến cuối, rõ ràng là không có sự đối lập tuyệt đối giữa ‘dân chủ’ và ‘độc tài’.

Đối với các bình luận viên Tự do, Chế độ Bonaparte, hay ‘chế độ độc tài’, xuất hiện như một mối đe dọa bên ngoài nền dân chủ, xuất phát từ những cá nhân vô đạo đức, những người không tôn trọng ‘các chuẩn mực dân chủ’, chẳng hạn như Donald Trump. Do đó, lời khuyên thường được đưa ra bởi những kẻ bảo vệ Tự do cho nền Dân chủ này là  tuân sùng ‘hiến pháp’, là ủng hộ cơ sở hiện tại thay vì những người theo chủ nghĩa dân túy ‘giả dối’. Kỳ lạ thay, lời khuyên tương tự cũng được đưa ra bởi cấp lãnh đạo Stalinist của Quốc tế Cộng sản, được biện mình bằng cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít, cái mà họ gọi là “Mặt trận Nhân dân”. Nhưng một chính sách như vậy sẽ không có tác dụng nhiều trong việc ngăn chặn sự trỗi dậy của chế độ Bonapart dưới thời Đệ nhị Cộng hòa.

Ai đã khiến cho cuộc đảo chính trở nên tất yếu nếu không phải là những đại biểu bị bắt vào ngày 2 tháng 12, những người mồm còn hô vang “Cộng hòa muôn năm!” Như Marx đã chỉ ra một cách xuất sắc trong “Ngày 18 tháng Sương mù”, chính đa số nghị viên ‘ôn hòa’ đã chuẩn bị cho sự sụp đổ của nền Cộng hòa.

Do đó, câu hỏi đặt ra là: Liệu chiến thắng của Bonaparte có thể bị ngăn chặn, hay đó là điều không thể tránh khỏi ngay sau khi ông giành chiến thắng áp đảo trong cuộc bầu cử năm 1848? Nếu ông ta cố gắng nắm quyền vào tháng 12 năm 1848 chứ không phải năm 1851 thì ông ta sẽ phải chống lại không chỉ quốc hội mà cả Lực lượng Vệ binh Quốc gia và một bộ phận quan trọng trong quân đội. Ngay cả vào năm 1850, sự ủng hộ của các nhà dân chủ xã hội trong quân đội, như đã được chứng minh trong cuộc bầu cử tháng 3, sẽ khiến một cuộc đảo chính quân sự phải hứng chịu nhiều rủi ro.

Điều này làm nổi bật một điểm quan trọng trong sự trỗi dậy của chế độ Bonapart nói chung: rằng tỷ lệ thuận với sự kiệt sức của các giai cấp đối nghịch trong xã hội trong thế bế tắc vô phương giải quyết là sự tự nâng mình lên cuộc đấu tranh giai cấp của kẻ chấp pháp. Chiến thắng của quần chúng cách mạng chắc chắn sẽ cản trở các kế hoạch của Bonaparte; nhưng với mỗi thất bại và cơ hội bị bỏ lỡ, các lực lượng cách mạng lại ngày càng yếu đi.

Tuy nhiên, chỉ vì công nhân không thể giành chính quyền không có nghĩa là giai cấp tư sản có thể trực tiếp nắm giữ quyền lực. Đảng Trật tự cầm quyền càng lâu thì càng bị cô lập và khinh thường. Và cơ sở xã hội của nó càng bị thu hẹp thì để bảo vệ chính mình nó càng cần phải giải tán chính các cơ quan của nền dân chủ tư sản. Nhưng như Marx giải thích, xã hội không thể bị giữ mãi trong tình trạng bất ổn, với mối đe dọa cách mạng thường trực trên đầu: “Thà kết thúc bằng khủng bố còn hơn chịu đựng khủng bố không hồi kết!”

Cuối cùng, một lối thoát sẽ được tìm thấy, bằng cách mạng hoặc phản cách mạng. Hoặc là công nhân sẽ thành công trong việc lật đổ ách thống trị của tư sản và đập tan sự phản kháng của giai cấp thống trị cũ; hoặc hình thức nhà nước dân chủ ít nhiều sẽ bị tước bỏ để bảo vệ bản chất giai cấp thực sự của nó. Hy sinh tất cả để bảo vệ ‘nền cộng hòa’ trong thời kỳ như vậy là điều không tưởng thuần túy nhất, bằng chứng là “những người cộng hòa thuần túy” đã phải nếm một bài học đau đớn vào tháng 12 năm 1851

BẤT ỔN

Dưới chế độ Bonaparte, nhà nước dường như có được cái vẻ ngoài tự do trong quyền hành và độc lập đối với các lực lượng bên ngoài xã hội. Nhưng, thực tế là, bản chất của nhà nước vẫn được xếp đặt trên nền tảng là quyền tư hữu, tuân theo các quan hệ tư bản chủ nghĩa. Do vậy, chức năng của nhà nước không bao giờ tách khỏi việc phải bảo vệ quyền tư hữu đó, cùng với sự bóc lột mà quyền hành đó tạo nên.

Thực tế, Đế chế đã tạo điều kiện để giải phóng giới thượng lưu khỏi công việc chính trị. Thay vào đó, họ có thể tập trung nguồn lực để củng cố địa vị thống trị kinh tế của mình trên đầu quảng đại quần chúng công nhân, những người đã bị bịt miệng, bị hóa lỏng thành nguyên liệu thô cho sự khai thác. Kết quả, kinh tế Pháp đã có bước tăng trưởng to lớn.

Tính độc lập tương đối của nhà nước Bonapartist được thể hiện thông qua việc nó điều hòa các giai cấp đối địch nhau, và giải quyết các vấn đề bằng những biện pháp lúc mềm mỏng lúc cứng rắn như nhau đối với tất cả các bên. Như Marx nhận xét về Bonaparte:

“Nhiệm vụ đầy mâu thuẫn mà con người này phải đối mặt giải thích cho những mâu thuẫn trong chính phủ của ông ta, sự mò mẫm bối rối lúc thì cố gắng tranh thủ, lúc lại hạ nhục, hết giai cấp này đến giai cấp khác, khiến cho cuối cùng tất cả giai cấp thống nhất lại để chống lại ông ta…”

Chính trị gia người Pháp Adolphe Thier từng nói về Bonaparte rằng ông ta là “một tên đần độn” và sẽ biến ông thành bù nhìn “để dễ bề thao túng”. Chúng ta có thể thấy điều tương tự như trên ở Nga hiện nay. Những người giúp Putin vươn lên nắm quyền lực có lẽ cũng nuôi những hy vọng như thế. Không may cho họ, khi cầm quyền, Putin lại tiến hành bắt giữ và sung công tài sản của các tập đoàn tài phiệt. Tuy nhiên, động thái của Putin, với một chủ ý rõ ràng, không hề tác động tới giới tài phiệt và nền kinh tế tư bản ở Nga.

Marx rút ra một bài học quan trọng khác từ sự trỗi dậy của Louis Bonaparte: rằng chế độ Bonapartist về bản chất là không ổn định. Trong thời gian kinh tế phát triển, chế độ này có thể tạm thời giữ cho xã hội ổn định. Nhưng khi khủng hoảng ập đến, do chế độ không có một cơ sở xã hội vững chắc nào để dựa vào, nó sẽ ngay lập tức sụp đổ.

Sự hiếu chiến của hầu hết các chế độ Bonapartist trong lịch sử có thể liên quan đến thực tế này: Chúng có tác dụng đánh lạc hướng, nếu chiến tranh diễn ra suôn sẻ thì nó có thể huy động sự ủng hộ xung quanh nhà lãnh đạo đang bị bao vây bởi quần chúng đang mất niềm tin. Cuộc phiêu lưu quân sự hiện tại ở Ukraine và các biện pháp trừng phạt của `phương Tây theo sau nó cũng có tác dụng tập hợp một bộ phận người dân Nga để ủng hộ chế độ cho đến nay. Nhưng mọi thứ có thể nhanh chóng biến thành thứ đối lập với chúng.

Marx đã dự đoán chính xác rằng một trong những cuộc phiêu lưu quân sự của Bonaparte dẫn đến sự sụp đổ của ông ta. Đối mặt với các cuộc biểu tình ngày càng gia tăng và tình trạng bất ổn trong nước, Bonaparte quyết định tuyên chiến với Phổ vào ngày 15/7/1870. Đến ngày 2 tháng 9, ông thất bại và trở thành tù nhân của Bismark. Đệ nhị Đế chế hoàn toàn biến mất.

Ta cũng cần nhìn ra rằng sự sụp đổ của chế độ Bonapartist không dẫn đến việc thiết lập tình hình ổn định và dân chủ trong xã hội Pháp. Ngược lại, nó kích thích và tạo đà cho cuộc cách mạng kế cận nó trở nên mạnh mẽ hơn. Cuộc cách mạng tiếp nối đó mạnh mẽ đến nỗi đã ghi dấu trong lịch sử bởi kết quả chói lòa: nhà nước công nhân đầu tiên trong lịch sử – Công xã Paris. Tương tự, sự sụp đổ của chế độ Estado Novo ở Bồ Đào Nha và chế độ phát xít ở Tây Ban Nha cũng làm nảy sinh các phong trào cách mạng rộng lớn có thể lật đổ chủ nghĩa tư bản.

Hiện nay, có rất nhiều thể chế Bonapartist đang phải hứng chịu những cú đánh làm rung chuyển đến tận nền móng của nó từ tác động của các cuộc khủng hoảng tư bản và kéo theo đó là nỗi phẫn uất của công nhân. Diễn biến của tình hình này cần được theo dõi sát sao và đánh giá cẩn thận, đặc biệt đối với các nhà Marxist.


QUY LUẬT CỦA CÁCH MẠNG

Nhìn lại các sự biến được mô tả trong “Ngày 18 tháng Sương mù”, có thể nhiều bạn cho rằng chúng thuộc về một thời đại xa lạ đối với thời đại của chúng ta. Xét cho cùng, những yêu cầu dân chủ chính của cuộc cách mạng năm 1848 – phổ thông đầu phiếu, tự do hội họp và báo chí, v.v. – đều đã đạt được, ít nhiều trong một thời gian nhất định nhờ cuộc đấu tranh của công nhân ở các nước tư bản thống trị. Nhưng đừng để sự sai khác về thời đại đánh lừa, bởi sự kiện thăng trầm của nền cộng hòa vẫn còn đó những bài học mà ta có thể rút ra cho thế giới ngày nay.

Có thể nói, theo nhiều cách, sự kiện năm 1848 là cuộc cách mạng hiện đại đầu tiên. Mặc dù có quy mô nhỏ, nhưng giai cấp công nhân đã chiếm vị trí trung tâm ngay từ đầu. Ở mọi giai đoạn, sức sống của cuộc cách mạng đều phụ thuộc vào sự tiến hay lùi của phong trào công nhân. Những thắng lợi ban đầu của cuộc cách mạng đạt được hoàn toàn do sức mạnh của giai cấp công nhân có vũ trang. Và, khi đã bảo đảm được nền cộng hòa dân chủ, công nhân lập tức đưa ra những yêu sách của riêng họ.

Run sợ trước sức mạnh của công nhân, giai cấp tư sản đã nhanh chóng từ bỏ mọi thành quả dân chủ của cuộc cách mạng và trở nên phản động. Do đó, số phận của nền cộng hòa đã được ấn định: nó sẽ bị công nhân lật đổ hoặc sẽ bị giai cấp tư sản lật đổ. Quá trình này hoàn toàn không chỉ diễn ra đối với nước Pháp vào năm 1848. Đó là một quy luật đối với mọi cuộc cách mạng xảy ra trong vòng 170 năm qua, được biểu hiện ra dưới những mức độ khác nhau.

Có thể thấy quy luật này đã được Marx và Engels đúc rút trong các tác phẩm của họ vào thời đoạn đó. Rút trực tiếp từ kinh nghiệm của công nhân Paris, Marx đã gửi một bài phát biểu tới tổ chức Liên đoàn Cộng sản vào năm 1850. Trong đó, ông nhấn mạnh rằng một cuộc cách mạng trong tương lai:

“Bên cạnh các chính phủ chính thức mới, [công nhân] phải đồng thời thành lập các chính phủ công nhân cách mạng của riêng mình, dưới hình thức các ủy ban và hội đồng điều hành địa phương, hoặc thông qua các hội nhóm hoặc ủy ban của công nhân…”

Hơn nữa, ông giải thích rằng mục đích của các hội đồng hoặc hội nhóm này không phải là để hỗ trợ chính phủ chính thức, mà là vạch trần bản chất và cuối cùng là lật đổ nó, thiết lập cái mà ông gọi là “chuyên chính vô sản” – chế độ thống trị giai cấp của công nhân.

“Tiếng hô xung trận của họ phải là: Cách mạng thường trực!”, ông kết luận.

Chương trình đã này không thể thực hiện được vào năm 1848, vì vào thời điểm đó công nhân vẫn chưa có đủ sức mạnh và tổ chức để dẫn dắt quần chúng đến chiến thắng. Tuy nhiên, về sau này, chương trình này đã được thực hiện, như cuộc Cách mạng tháng Sáu năm 1871 và Cách mạng Nga năm 1917. Mặc dù chỉ kéo dài trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng các thử nghiệm này đã cho thấy khả năng thực hiện chương trình của Marx trong tình hình thực tế.

Marx đã có một cái nhìn sáng suốt về tầm quan trọng của cách mạng liên tục từ rất sớm, và điều này đã cung cấp nguồn lực quý báu cho các thế hệ những người Marxist sau này để hiểu rõ hơn về ý nghĩa và hướng đi của các cuộc cách mạng của họ, từ đó tự mình làm nên lịch sử thông qua những cuộc cách mạng của chính mình.

Ở Nga, nơi chưa có giai cấp vô sản vào năm 1848, phân tích của Leon Trotsky về cuộc cách mạng năm 1905 sẽ khiến ông đưa ra lý thuyết về cuộc cách mạng thường trực của riêng mình, lý thuyết này chắc chắn đã rút ra rất nhiều từ các bài viết của Marx vào năm 1848. Trotsky đã tóm tắt lý luận này như sau:

“Cách mạng, bắt đầu với tư cách là một cuộc cách mạng tư sản với những nhiệm vụ của riêng nó, sẽ sớm gây ra những xung đột giai cấp gay gắt và sẽ chỉ giành được thắng lợi cuối cùng bằng cách chuyển giao quyền lực cho giai cấp duy nhất có khả năng đứng đầu quần chúng bị áp bức, tức là giai cấp vô sản. Một khi đã nắm quyền, giai cấp vô sản sẽ không thể giới hạn mình trong một chương trình dân chủ tư sản. Mục đích của cách mạng chỉ có thể đạt được chỉ khi Cách mạng Nga lan tỏa và làm bùng nổ làn sóng cách mạng trên toàn châu Âu. Nhưng, nếu châu Âu không hưởng ứng nhiệt tình cách mạng đó, thì giai cấp tư sản phản động sẽ hành động, nó sẽ phá hoại tất cả những thành quả cách mạng đã đạt được. Vì vậy, nhiệm vụ của giai cấp vô sản, khi đã giành được chính quyền, tuyệt đối không thể dừng lại ở nền dân chủ tư sản, mà phải tiếp tục cách mạng, phải luôn ở trong trạng thái cách mạng thường trực.”

Quan điểm này đã được Lenin nhấn mạnh trong Luận cương tháng 4 của mình, nhằm trang bị vũ khí cho những người Bolshevik. Mà nếu thiếu nó, đảng rất có thể sẽ không giành được chính quyền.

Sau này, Trotsky một lần nữa rút ra bài học của “Ngày 18 tháng Sương mù”, trong phân tích xuất sắc của ông về thời kỳ cách mạng và phản cách mạng giữa hai cuộc chiến tranh thế giới. Như ông giải thích năm 1934:

“Sau chiến tranh, một loạt các cuộc cách mạng thắng lợi rực rỡ đã diễn ra ở Nga, Đức, Áo-Hung và sau đó là ở Tây Ban Nha. Nhưng chỉ ở Nga, giai cấp vô sản mới nắm toàn bộ quyền lực trong tay, tước đoạt tài sản của những kẻ bóc lột và biết cách tạo ra và duy trì nhà nước của công nhân. Ở các nơi khác, giai cấp vô sản dù thắng lợi nhưng bị chững lại giữa chừng vì sai lầm trong lãnh đạo. Kết quả là, họ đánh mất quyền lực, chuyển từ tả sang hữu và trở thành miếng mồi ngon cho chủ nghĩa phát xít. Tại một loạt quốc gia khác, quyền lực được chuyển vào tay chế độ độc tài quân sự. Nghị viện không ở đâu có khả năng hòa giải các xung đột giai cấp. Xung đột, khi đó, chỉ có thể kết thúc bằng vũ lực.”

Khi lời giới thiệu này được viết, hệ thống tư bản chủ nghĩa đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng sâu sắc nhất trong lịch sử của nó. Trên khắp thế giới, quần chúng liên tục biểu tình và đòi lật đổ chính phủ để xây dựng nên một xã hội mới với tương lai tốt đẹp hơn. Tại châu Âu và ở các nước tư bản phát triển đang diễn ra tình trạng tham nhũng và khủng hoảng, có thể được ví như tình cảnh trong những ngày cuối cùng của Chế độ quân chủ tháng Bảy.

Khi giai cấp công nhân tìm kiếm một lối thoát, chắc chắn sẽ gặp phải những Cavaignac, Barrot, Napoléon và cả Montagne mới. Do đó, tương lai của nhân loại nằm ở khả năng học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước chúng ta.

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, được xuất bản vào đêm trước Cách mạng 1848, kết thúc bằng những lời cổ động đầy nhiệt tình:

“Những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ có cả một thế giới để giành lấy.”

Ngày nay, cũng như năm 1848, công nhân không có gì để mất ngoài xiềng xích. Ngày nay, cũng như năm 1848, họ có cả một thế giới để giành lấy. Giai cấp vô sản hiện đại đã mạnh mẽ hơn rất nhiều so với năm 1848; và xã hội xã hội chủ nghĩa đang đến gần chúng ta hơn bao giờ hết. Với kinh nghiệm quý báu từ cha anh, giai cấp công nhân nhất định chiến thắng.

Vô sản toàn thế giới đoàn kết lại!


Josh Holroyd, IMT, London, tháng 7 năm 2022

Người dịch: Potato

 

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận