Tuyên ngôn của đại hội lần thứ II của quốc tế cộng sản (Phần I)

 

I. Quan hệ quốc tế sau Versailles

  Giai cấp tư sản trên khắp thế giới đang âu sầu ôn lại những năm tháng đã qua của chính nó. Tất cả các trụ cột chính của nó trong quan hệ đối ngoại và đối nội đều đã bị lật đổ hoặc lung lay. “Ngày mai” lấp ló như một mối đe dọa đen tối đối với thế giới của những kẻ bóc lột. Chiến tranh đế quốc đã phá hủy hoàn toàn hệ thống liên minh cũ và sự đảm bảo lẫn nhau vốn làm nền cho cán cân quyền lực và vũ trang hòa bình trên thế giới. Hiệp ước Versailles đã không tạo ra sự cân bằng quyền lực mới thay thế cho hiệp ước cũ.

 Đầu tiên là Nga, sau đó là Áo-HungĐức đã bị loại khỏi đấu trường thế giới. Các quốc gia hùng mạnh nhất từng chiếm những vị trí hàng đầu trong hệ thống thống trị thế giới đều bị biến thành đối tượng của sự cướp bóc và chia nhỏ. Trước chiến thắng của các đế quốc trong khối Hiệp ước, đã mở ra những chân trời mới và rộng lớn của công cuộc khai thác thuộc địa, bắt đầu ngay bên ngoài sông Rhine, bao trùm lên toàn bộ Trung và Đông Âu và mở rộng tới tận Thái Bình Dương. Cả hai, Congo hay Syria [1], Ai Cập hay Mexico làm thế nào có thể so sánh được với thảo nguyên và rừng núi của nước Nga, với năng lực lao động lành nghề của người Đức? Chương trình thuộc địa mới của những kẻ chiến thắng đã được định đoạt: nước cộng hòa công nhân ở Nga sẽ bị lật đổ, nguyên liệu thô của nước Nga sẽ bị cướp bóc, và công nhân Đức bị buộc phải chế biến chúng với sự trợ giúp của than đá Đức, trong khi quân đội Đức đóng vai trò là người giám sát – do đó mà đảm bảo dòng chảy của các thành phẩm và cùng với đó là lợi nhuận cho những kẻ chiến thắng. Chương trình “tổ chức châu Âu”, được hoạch định bởi chủ nghĩa đế quốc Đức ở thời điểm mà nó đạt được những thành công quân sự lớn nhất, đã được kế thừa bởi khối Hiệp ước chiến thắng. Khi những kẻ thống trị khối Hiệp ước đặt những tên cướp bại trận của Đế chế Đức trước vành móng ngựa thì những kẻ đó thực sự chỉ là bị phán xét bởi “một quan tòa  đồng phạm” – những kẻ đồng phạm của họ trong tội ác.

 Nhưng phe của những kẻ thắng trận cũng có một số đã bị đánh bại.

 Say sưa trong làn khói của chủ nghĩa sô vanh về một chiến thắng mà cô đã dành cho  kẻ khác, nước Pháp tư sản tự coi mình là kẻ lãnh đạo của châu Âu. Trên thực tế, chưa bao giờ như lúc này nước Pháp và chính nền móng cho sự tồn tại của nó lại phải phụ thuộc rất nhiều vào các quốc gia hùng mạnh hơn, Anh và Mỹ. Đối với Bỉ, Pháp đã áp đặt một chương trình kinh tế và quân sự cụ thể, biến đồng minh yếu hơn của mình thành một lãnh thổ nô lệ, nhưng trong mối quan hệ với Anh, bản thân Pháp lại đóng vai trò của Bỉ, chỉ là ở một quy mô lớn hơn một chút.

 Đôi khi, đế quốc Anh cho phép những tên con buôn của nước Pháp thực hiện quyền cai trị độc đoán của họ trong giới hạn nhất định trên lục địa. Bằng cách này, họ khéo léo lái vấn đề khỏi chính họ, và trút nó lên Pháp, sự phẫn nộ gay gắt nhất của những người cùng khổ ở châu Âu và ngay cả ở chính nước Anh. Sức mạnh của nước Pháp hoang tàn và đẫm máu là thứ huyễn hoặc, gần như là khôi hài; sớm hay muộn điều này sẽ thấm sâu vào não trạng của những nhà xã hội quốc gia Pháp.

 Tầm quan trọng cụ thể của Ý trong các vấn đề thế giới thậm chí còn bị hạ xuống thấp hơn. Không có than, ngũ cốc, cũng chẳng có nguyên liệu thô, với trạng thái cân bằng nội tại hoàn toàn bị phá vỡ bởi chiến tranh, tư sản Ý chẳng thể nào, mặc dù không thiếu ý chí, thực hiện được trọn vẹn cái quyền cướp bóc và xâm phạm ngay cả ở những ngóc ngách, xó xỉnh của thế giới thuộc địa mà Anh và Nhật đã giao cho nó, bị giằng xé bên trong cái vỏ phong kiến ​​của mình bởi những mâu thuẫn tư bản, đứng bên bờ vực của cuộc khủng hoảng cách mạng sâu sắc nhất mà ngay cả bây giờ, bất chấp tình hình quốc tế thuận lợi, làm tê liệt chuyến bay của nó vào bầu trời đế quốc.

 Và như vậy, chỉ còn lại hai cường quốc thực sự trên thế giới: AnhHoa Kỳ .

 Chủ nghĩa đế quốc Anh đã loại bỏ được sự cạnh tranh ở Á châu bởi Sa hoàng và cả sự cạnh tranh khủng khiếp của người Đức. Sức mạnh hải quân của Anh đã đạt đến đỉnh cao. Vương quốc Anh bao quanh các lục địa bằng một chuỗi các dân tộc lệ thuộc. Can thiệp thô bạo vào Phần Lan, Estonia và Latvia, giờ nó đang tước đi những dấu tích độc lập cuối cùng của Thụy Điển và Na Uy và đang biến Biển Baltic thành một trong những vùng vịnh của nó Anh. Nó đã không gặp phải sự kháng cự nào ở Biển Bắc. Bằng Thuộc địa Cape, Ai Cập, Ấn Độ, Ba Tư, Afghanistan, nó đã biến Ấn Độ Dương thành một vùng biển của nước Anh. Thống trị các đại dương, Anh cũng kiểm soát các lục địa. Vai trò cường quốc thế giới của nó chỉ bị giới hạn bởi một là nước Cộng hòa của đồng Dollar Mỹ và hai là nước Cộng hòa Xô viết Nga.

 Chiến tranh thế giới đã loại bỏ hoàn toàn Hoa Kỳ khỏi chủ nghĩa bảo thủ lục địa (“chủ nghĩa biệt lập”). Chương trình của một chủ nghĩa tư bản dân tộc đang lên – Nước Mỹ cho người Mỹ (Học thuyết Monroe [2] ) Sau khi khai thác cuộc chiến thương mại – công nghiệp và thông qua đầu cơ thị trường chứng khoán; sau khi đã đúc máu của châu Âu thành thứ lợi nhuận vô hồn, Mỹ đã tiếp tục can thiệp vào cuộc chiến, đóng vai trò quyết định trong việc dẫn đến sự sụp đổ của nước Đức, và đã nhúng tay vào tất cả các vấn đề của chính trị châu Âu cũng như thế giới.

 Dưới ngọn cờ “Liên đoàn các quốc gia”, Hoa Kỳ đã cố gắng mở rộng sang bên kia bờ đại dương kinh nghiệm của mình đối với sự hợp nhất liên bang của các khối đa quốc gia, rộng lớn – một nỗ lực để xích lại với cỗ xe vàng của mình, các dân tộc của Châu Âu và các khu vực khác trên thế giới, đồng thời đưa họ vào vòng cai trị của Washington. Về bản chất, Hội Quốc Liên được dự định như là một tập đoàn độc quyền thế giới, “Yankee and Co.”

 Tổng thống Hoa Kỳ, nhà tiên tri vĩ đại của những thứ vô vị, đã xuống núi Sinai để chinh phục châu Âu, với chương trình 14 điểm trong tay. Những nhà môi giới chứng khoán, thành viên nội các hay các doanh nhân chẳng bao giờ tự lừa dối mình dù chỉ phút giây về ý nghĩa của lời mặc khải mới này. Nhưng bù lại các nhà “Xã hội chủ nghĩa” ở châu Âu, với bậc thầy pha chế Kautsky, đã đạt đến một trạng thái lên đồng, đi kế bên chiếc hòm thiêng của Wilson và nhảy múa như Vua David vậy.

 Khi thời gian trôi qua cho những vấn đề thực tế, nó đã trở nên rõ ràng với nhà tiên tri của nước Mỹ là bất chấp tỷ giá hối đoái tuyệt vời của đồng đô la, vị trí đầu tiên trên tất cả các tuyến đường biển, nơi kết nối và chia rẽ các quốc gia, vẫn tiếp tục cho đến nay thuộc về Vương quốc Anh, vì nó sở hữu một lực lượng hải quân hùng mạnh hơn, dây cáp xuyên đại dương dài hơn và kinh nghiệm cướp bóc thế giới lâu đời hơn nhiều. Hơn nữa, trong chuyến đi của mình, Wilson đã chạm trán với Cộng hòa Xô viết và Chủ nghĩa cộng sản. Đấng cứu thế Mỹ đã từ bỏ Hội Quốc Liên trong bực dọc khi nước Anh chuyển đổi nó thành một trong những cơ sở ngoại vụ của mình, và quay lưng lại với châu Âu.

 Tuy nhiên, sẽ là ấu trĩ nếu cho rằng chủ nghĩa đế quốc Mỹ, bị Anh đánh trả trong đợt tấn công đầu tiên, sẽ rút vào trong lớp vỏ của Học thuyết Monroe. Không, bằng cách tiếp tục ràng buộc Tây Bán cầu vào chính nó ngày một thô bạo hơn, bằng cách biến các nước Trung và Nam Mỹ thành thuộc địa của mình, Hoa Kỳ, thông qua hai đảng cầm quyền – Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa – đang chuẩn bị tạo ra, như một đối trọng với Liên đoàn các quốc gia Anh, một liên đoàn của riêng nó, tức là một liên đoàn với Bắc Mỹ là trung tâm của hệ thống thế giới. Để bắt đầu công việc một cách đúng đắn, Hoa Kỳ dự định trong vòng ba đến năm năm tới sẽ làm cho lực lượng hải quân của mình mạnh hơn của Anh. Sau đó, nước Anh phải đối mặt với câu hỏi: "Tồn tại hay không tồn tại?" Sự cạnh tranh gay gắt giữa hai gã khổng lồ này trong lĩnh vực xây dựng hải quân đi kèm với cuộc tranh giành dầu mỏ không kém phần gay gắt. Pháp – người đã tính đến việc đóng vai trò trọng tài giữa Anh và Hoa Kỳ, nhưng thay vào đó lại thấy mình bị thu hút vào quỹ đạo của Anh như một vệ tinh hạng hai – nhận thấy trong Hội Quốc Liên một cái ách không thể chịu nổi và đang tìm cách thoát ra bằng cách thổi bùng lên sự đối kháng giữa Anh và Hoa Kỳ.

 Đây là những lực lượng hùng mạnh nhất đang nỗ lực hướng tới và chuẩn bị cho một cuộc xung đột thế giới mới.

 Chương trình giải phóng các quốc gia nhỏ, được tiến hành trong thời kỳ chiến tranh, đã dẫn đến sự thống trị và nô dịch hoàn toàn các dân tộc Balkan, kẻ chiến thắng cũng như người chiến bại, và dẫn đến sự Balkan hóa phần lớn châu Âu. Các lợi ích đế quốc đã thúc đẩy những kẻ chinh phục vào con đường tiêu diệt các quốc gia nhỏ bé bị cô lập khỏi lãnh thổ của các cường quốc bại trận. Ở đây thậm chí không có một chút khái niệm nào về cái gọi là nguyên tắc quốc gia: chủ nghĩa đế quốc bao gồm việc vượt qua các khuôn khổ quốc gia, ngay cả những khuôn khổ của các quốc gia lớn. Các nhà nước tư sản mới và nhỏ bé chỉ là thứ phụ phẩm của chủ nghĩa đế quốc. Để có được những điểm ủng hộ tạm thời, chủ nghĩa đế quốc tạo ra một chuỗi các quốc gia nhỏ, một số bị đàn áp công khai, số khác được chính thức bảo vệ trong khi các nước chư hầu thực sự còn lại – Áo, Hung, Ba Lan, Nam Tư, Bohemia[3] , Phần Lan, Estonia, Latvia, Lithuania, Armenia, Georgia, v.v. Thống trị họ với sự trợ giúp của ngân hàng, đường sắt và các công ty độc quyền về than, chủ nghĩa đế quốc bó buộc họ với những khó khăn không thể chịu đựng được về kinh tế và dân tộc, trước những xích mích và va chạm đẫm máu.

 Thật là một sự thật trớ trêu của lịch sử là việc khôi phục Ba Lan – một phần của chương trình cách mạng dân chủ và dẫn đến những biểu hiện đầu tiên của giai cấp vô sản quốc tế – đã đạt được bởi chủ nghĩa đế quốc với mục tiêu là chống lại cách mạng; và Ba Lan “dân chủ” đó, nơi mà những chiến binh tiên phong đã chết trên tất cả những chướng ngại của châu Âu, ngày nay đang đóng vai trò là một công cụ bẩn thỉu và khát máu trong bàn tay gian ác của bọn xã hội đen Anh, Pháp nhằm chống lại nước cộng hòa công nhân đầu tiên trên thế giới!

 Cùng với Ba Lan là Tiệp Khắc “dân chủ”, bán mình cho chủ nghĩa tư bản Pháp, cung cấp các biệt đội Bạch vệ để chống lại nước Nga Xô viết và Hungary Xô viết.

 Nỗ lực anh hùng của giai cấp vô sản Hungary nhằm thoát khỏi nhà nước dân tộc Trung Âu và sự hỗn loạn kinh tế để tiến tới một Liên bang Xô viết – con đường cứu rỗi duy nhất – đã bị bóp nghẹt bởi các lực lượng hỗn hợp của bọn phản động tư bản ở vào thời điểm mà giai cấp vô sản của các quốc gia mạnh nhất Châu Âu bị các đảng của nó lừa dối, đã tỏ ra không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ của mình cả đối với Hungary Xã hội chủ nghĩa và cả đối với chính họ.

 Chính quyền Xô Viết ở Budapest đã bị lật đổ với sự hợp tác của những kẻ xã hội phản bội, và đến lượt họ, sau khi duy trì quyền lực trong ba ngày rưỡi, đã bị gạt sang một bên bởi tên cặn bã phản cách mạng đứt dây cương kẻ nhuốm máu tội ác vượt qua cả bọn Kolchak , Denikin [4], Wrangel[5] và các đại lý khác của Khối Hiệp ước. Nhưng cho dù tạm thời bị nghiền nát, Hungary Xô Viết [6] vẫn như một ngọn đèn hiệu soi sáng cho tất cả những người cùng khổ ở Trung Âu.

 Người dân Thổ Nhĩ Kỳ từ chối tuân theo các điều khoản hòa bình ô nhục mà những kẻ đê tiện ở London đã tạo ra cho họ. Để thực thi các điều khoản này, Anh đã vũ trang và kích động Hy Lạp chống lại Thổ Nhĩ Kỳ[7]. Vì vậy, bán đảo Balkan và Tiểu Á, người Thổ Nhĩ Kỳ cũng như người Hy Lạp, đều bị kết án trong sự tàn phá và hủy hoại hoàn toàn lẫn nhau.

 Trong cuộc đấu tranh giữa Khối hiệp ước và Thổ Nhĩ Kỳ, Armenia đã đóng vai trò được lập trình giống như Bỉ đã làm trong cuộc đấu tranh chống lại Đức; như Serbia trong cuộc đấu tranh chống lại Áo-Hungary. Sau khi tạo nên Armenia – không có bất kỳ biên giới nào và không có bất kỳ khả năng sống sót nào – Wilson đã phó mặc Armenia cho Hội quốc liên: Đất của Armenia không có dầu cũng như bạch kim. Armenia “được giải phóng” ngày nay đang trở nên khó tự vệ hơn bao giờ hết.

 Hầu như mọi quốc gia “dân tộc” mới được thành lập đều có một irredenta của riêng mình, tức là vết loét nội bộ của quốc gia đó.

 Đồng thời, cuộc đấu tranh dân tộc trong vòng thống trị của các nước chiến thắng đã lên đến đỉnh điểm về cường độ. Giai cấp tư sản Anh, vốn tìm cách làm người giám hộ cho các dân tộc ở bốn phương trên thế giới, không có khả năng giải quyết vấn đề Ailen ngay trước mũi nó.

 Nghiêm trọng hơn nữa là vấn đề dân tộc ở các thuộc địa. Ai Cập, Ấn Độ, Ba Tư bị chấn động bởi các cuộc nổi dậy. Qua những người vô sản tiên tiến của châu Âu cũng như châu Mỹ, những người cùng khổ ở thuộc địa đang tiếp thu khẩu hiệu: Chính quyền về tay Xô Viết.

 Chính quyền, chính phủ, dân tộc, sự khai hóa, tư sản châu Âu – được phân phát bởi chiến tranh và Hiệp ước hòa bình Versailles – giống như một trại thương điên. Các nhà nước nhỏ bé bị chia tách một cách giả tạo, có nền kinh tế đang bị bóp nghẹt trong biên giới của họ, gầm gừ với nhau, và tiến hành các cuộc chiến tranh giành các bến cảng, các tỉnh và thị trấn nhỏ. Họ tìm kiếm sự bảo vệ của các quốc gia lớn hơn, mà sự đối kháng của họ cũng tăng lên từng ngày. Ý phản đối Pháp một cách thù địch và có xu hướng ủng hộ Đức chống lại Pháp, thời điểm mà Đức có thể ngẩng cao đầu đang trở lại. Pháp ghen tị với nước Anh và nhằm thu lợi về mình đã sẵn sàng đốt cháy châu Âu một lần nữa từ tất cả bốn góc của nó. Anh, với sự giúp đỡ của Pháp, giữ châu Âu trong tình trạng hỗn loạn bất lực, do đó, tự mình cởi trói cho các hoạt động trên thế giới nhằm chống lại Hoa Kỳ. Hoa Kỳ cho phép Nhật Bản sa lầy ở Đông Siberia để đảm bảo vào năm 1925 ưu thế hải quân của họ có thể vượt Anh – tất nhiên là với điều kiện Anh không cấu trúc lại lực lượng trước đó.

 Đồng điệu với bức tranh về quan hệ thế giới này, Nguyên soái Foch, nhà tiên tri quân sự của giai cấp tư sản Pháp, đã đưa ra cảnh báo rằng cuộc chiến tiếp theo sẽ bắt đầu khi cuộc chiến cuối cùng bị lãng quên, cụ thể là với máy bay và xe tăng, với vũ khí tự động và súng máy thay vì vũ khí cá nhân, với lựu đạn thay vì lưỡi lê.

 Công nhân và nông dân Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Á, Châu Phi và Châu Úc! Bạn đã phải hứng chịu 10 triệu cái chết, hai mươi triệu người bị thương và tàn tật. Hôm nay ít ra là bạn nên biết bạn đã đạt được những gì với cái giá này!

 

II. TÌNH HÌNH KINH TẾ

 Trong khi đó, sự bần cùng hóa của nhân loại đã diễn ra một cách nhanh chóng.

 Thông qua các cơ chế của nó, chiến tranh đã phá hủy các mối quan hệ kinh tế thế giới mà sự phát triển của chúng từng là một trong những cuộc chinh phục quan trọng nhất của chủ nghĩa tư bản. Kể từ năm 1914, Anh, Pháp và Ý đã bị cắt khỏi Trung Âu và Cận Đông; kể từ năm 1917 – từ Nga.

 Một vài năm chiến tranh đã phá hủy những gì mà đã mất cả một số thế hệ để tạo ra; sức lao động của con người, thậm chí đã được sử dụng cho đến cùng kiệt, đã được giảm xuống đến mức tối thiểu. Trong suốt những năm này, bất cứ nơi nào cần chế biến các nguồn cung nguyên liệu hiện có thành hình dạng thành phẩm thì lao động cũng được sử dụng chủ yếu là để sản xuất các phương tiện và công cụ để hủy diệt.

 Trong những nhánh cơ bản của nền kinh tế nơi nhân loại trực tiếp tham gia vào cuộc đấu tranh chống lại sự hư hỏng và sức ì của tự nhiên, trong việc khai thác nhiên liệu và nguyên liệu thô từ lòng trái đất, sản xuất đã dần suy yếu. Chiến thắng của Khối Hiệp ước và Hòa bình Versailles đã không ngăn chặn quá trình tàn phá và suy tàn của kinh tế, mà chỉ làm thay đổi đường lối và hình thức của nó. Sự phong tỏa nước Nga Xô Viết và sự kích động giả tạo cuộc nội chiến trên những vùng đất biên giới màu mỡ của nó đã gây ra và tiếp tục gây thêm những tổn hại khôn lường cho phúc lợi của cả nhân loại. Với mức viện trợ kỹ thuật tối thiểu, Nga, nhờ các hình thức kinh tế Xô Viết của mình đã có thể cung cấp cho châu Âu – và Quốc tế Cộng sản đã chứng thực điều này trước toàn thế giới – gấp đôi, gấp ba số lượng thực phẩm và nguyên liệu thô mà nước Nga cũ từng cung cấp. Nhưng thay cho điều này, bọn đế quốc Anh-Pháp đã buộc nước Cộng hòa của những người cùng khổ phải dành toàn bộ lực lượng cho tự vệ. Để tước đoạt nhiên liệu của công nhân Nga, Anh đã giữ chặt mối quan hệ với Baku, khi đó nó chỉ có thể xuất khẩu cho mục đích sử dụng của mình một phần không đáng kể trong sản lượng dầu. Bể than Donetz giàu có đã bị các băng đảng Bạch vệ của Khối Hiệp ướp tàn phá một cách định kỳ. Các kỹ sư và đặc công Pháp đã góp phần không nhỏ trong việc phá hủy các cây cầu và đường sắt của nước Nga. Nhật Bản hiện đang cướp bóc và tàn phá miền Đông Siberia.

 Công nghệ Đức và năng suất lao động cao của Đức, những yếu tố quan trọng nhất trong việc tái tạo nền kinh tế thế giới, thậm chí còn bị tê liệt sau Hiệp ước hòa bình Versailles hơn là trong thời chiến. Khối hiệp ước phải đối mặt với một mâu thuẫn không thể giải quyết. Để trả công chính xác, người ta phải cung cấp khả năng làm việc. Để làm cho công việc trở nên khả thi, người ta phải làm cho nó có thể sống được. Và làm cho nước Đức đã bị nghiền nát, rã rời, kiệt quệ khả năng sống – để nó có thể kháng cự. Nỗi sợ hãi về sự trả thù của Đức quyết định chính sách của Foch: một chính sách luôn thắt chặt quân sự để ngăn chặn sự tái sinh của nước Đức.

 Bất cứ nơi đâu cũng có sự khan hiếm; bất cứ ở đâu cũng có nhu cầu. Không chỉ cán cân thương mại của Đức mà của Pháp và Anh cũng bị thâm hụt một cách rõ ràng. Nợ quốc gia của Pháp đã lên tới 300 tỷ franc, trong đó, theo Thượng nghị sĩ phản động người Pháp Gaudin de Villaine, 2/3 là từ các vụ tham ô, trộm cắp và hỗn loạn nói chung.

 Công việc khôi phục các khu vực bị tàn phá bởi chiến tranh được thực hiện ở Pháp chỉ là một bước nhỏ trong đại dương tàn phá này. Thiếu nhiên liệu, thiếu nguyên liệu thô và thiếu lực lượng lao động tạo ra những trở ngại không thể vượt qua.

 Pháp cần vàng; Pháp cần than. Với một ngón tay trỏ vào vô số những ngôi mộ trong nghĩa trang chiến tranh, bọn tư sản Pháp đòi chia chác tiền của. Nước Đức phải trả giá! Rốt cuộc, Marshal Foch vẫn có đủ các trung đoàn da đen để chiếm các thành phố của Đức. Nga phải trả giá! Để truyền đến cho người dân Nga ý tưởng này, chính phủ Pháp đang chi cho sự tàn phá nước Nga hàng tỷ đô la thu được vốn là để khôi phục lại nước Pháp.

 Thỏa thuận tài chính quốc tế, nhằm giảm nhẹ gánh nặng thuế của Pháp thông qua việc xóa bỏ ít nhiều các khoản nợ chiến tranh, đã không đạt được: Hoa Kỳ không tỏ bất cứ dấu hiệu gì là muốn dành cho châu Âu một món quà lên tới mười tỷ đô la.

 Việc phát hành tiền giấy giả định đạt tỷ lệ lớn hơn bao giờ hết. Trong khi ở nước Nga Xô Viết, sự phát triển của tiền giấy và sự mất giá của nó, song song với sự phát triển đồng thời của nền kinh tế quốc doanh, việc phân phối nhu yếu phẩm có kế hoạch và việc trả lương bằng hiện vật ngày càng mở rộng, chỉ cho thấy một trong những kết quả của sự héo mòn của nền kinh tế hàng hóa – tiền tệ; thì ở các nước tư bản, khối lượng tiền giấy ngày càng lớn báo hiệu sự hỗn loạn kinh tế ngày càng sâu sắc và một sự sụp đổ là không thể tránh khỏi.

 Các hội nghị của Khối Hiệp ước đi hết từ địa phương này sang địa phương khác; họ tìm kiếm nguồn cảm hứng ở tất cả các khu nghỉ dưỡng của Châu Âu. Tất cả đều dang rộng tay, đòi hỏi bồi hoàn xứng đáng cho số người đàn ông đã thiệt mạng trong chiến tranh. Sở giao dịch chứng khoán lưu động này, cứ hai tuần một lần lại quyết định xem Pháp có nhận được 50 hay 55 phần trăm tiền bồi thường của Đức, thứ mà Đức không thể trả, là thành tựu đỉnh cao nhất của cái “tổ chức châu Âu” này đã từng tuyên bố.

 Chủ nghĩa tư bản đã suy thoái trong quá trình chiến tranh. Việc khai thác giá trị thặng dư có hệ thống từ quá trình sản xuất – nền tảng của kinh tế lợi nhuận – dường như là một nghề quá xa vời đối với Messrs. Giai cấp tư sản đã quen với việc tăng gấp đôi và chia nhỏ vốn của họ trong vòng vài ngày bằng cách đầu cơ trên cơ sở của sự cướp bóc trên quy mô quốc tế.

 Giai cấp tư sản đã rũ bỏ những thành kiến ​​từng cản trở nó, và đã có được những thói quen nhất định mà trước đây nó chưa từng có. Chiến tranh đã thúc đẩy nó khiến cho nhiều quốc gia bị phong tỏa, bị bắn phá từ trên không và các thành phố và làng mạc bị đốt cháy, trực khuẩn tả lây lan nhanh chóng, thuốc nổ được mang theo trong túi ngoại giao, sự làm giả tiền tệ của đối thủ; và anh ta đã quen với việc hối lộ, gián điệp và buôn lậu ở quy mô không tưởng nổi. Tập quán chiến tranh đã được tiếp quản, sau khi hòa bình kết thúc cũng như tập quán thương mại. Các hoạt động thương mại chính ngày nay được hợp nhất với các chức năng của nhà nước, vốn bước lên hàng đầu như một băng trộm cướp của thế giới được trang bị đầy đủ các phương tiện bạo lực.

 Cơ sở sản xuất của thế giới càng hẹp thì các phương pháp chiếm đoạt [giá trị thặng dư] càng man rợ và lãng phí hơn.

 Cướp! Đây là từ cuối cùng của chính sách tư bản đã thay thế các chính sách thương mại tự do và chủ nghĩa bảo hộ. Cuộc đột kích của bọn xã hội đen Rumani vào Hungary, khi chúng mang theo đầu máy xe lửa và những chiếc nhẫn đeo tay, là một biểu tượng phù hợp cho triết lý kinh tế của Lloyd George và Millerand.

 Trong chính sách kinh tế đối nội của mình, giai cấp tư sản chạy đi chạy lại giữa  một bên là chương trình quốc hữu hóa, các quy định và kiểm soát sâu rộng hơn, và mặt khác, các cuộc phản đối chống lại sự can thiệp của nhà nước vốn đã phát triển trong chiến tranh. Quốc hội Pháp đang bận rộn tìm cách thu hẹp vòng tròn, cụ thể là tạo ra một “mệnh lệnh thống nhất” cho mạng lưới đường sắt của nước cộng hòa mà không làm tổn hại đến lợi ích tư bản tư nhân của các tập đoàn đường sắt. Cùng lúc đó, báo chí tư bản của Pháp đang tiến hành một chiến dịch khốc liệt chống lại chủ nghĩa “chủ nghĩa tự do[1*] có xu hướng cản trở sáng kiến ​​tư nhân. Các tuyến đường sắt của Mỹ, do nhà nước vào tổ chức trong chiến tranh, đã rơi vào tình trạng thậm chí còn tồi tệ hơn khi nhà nước loại bỏ quyền kiểm soát. Trong khi đó, Đảng Cộng hòa đã áp dụng một kế hoạch trong cương lĩnh của mình, hứa hẹn giữ cho đời sống kinh tế không bị chính phủ can thiệp một cách tùy tiện.

 Con chó canh già đời của chủ nghĩa tư bản, Samuel Gompers[8], người đứng đầu Liên đoàn Lao động Hoa Kỳ, đang tiến hành một chiến dịch chống lại việc quốc hữu hóa các tuyến đường sắt đang được ủng hộ ở Mỹ, ở Pháp và các quốc gia khác như một liều thuốc chữa bách bệnh bởi những kẻ giản đơn và lang băm của chủ nghĩa cải lương. Trên thực tế, những sự xâm nhập bạo lực lẻ tẻ của nhà nước vào nền kinh tế chỉ nhằm cạnh tranh với hoạt động tàn độc của những kẻ đầu cơ trong việc gia tăng sự hỗn loạn của nền kinh tế tư bản trong thời kỳ suy tàn của nó. Sự chuyển giao các ngành chính của công nghiệp và vận tải từ tay các quỹ tín thác cá nhân sang tay của “quốc gia”, tức là nhà nước tư sản, vào tay của tổ chức tư bản ăn cướp mạnh nhất, không có nghĩa là loại bỏ của cái ác mà chỉ là sự khuếch đại của nó.

 Sự sụt giảm của giá cả và sự gia tăng của tỷ giá hối đoái chỉ là những hiện tượng hời hợt và tạm thời, xảy ra trong bối cảnh hủy hoại vô phương kiểm soát. Sự biến động của giá cả không làm thay đổi các thực tế cơ bản: ví dụ, Sự thiếu hụt nguyên liệu thô và sự suy giảm năng suất lao động.

 Sau khi trải qua những gian khổ kinh hoàng của chiến tranh, quần chúng lao động không có khả năng làm việc với cường độ như nhau trong cùng điều kiện. Sự tàn phá trong vòng vài giờ các giá trị mà nó đã mất nhiều năm để tạo ra, trong vũ điệu chiến tranh điên cuồng của hàng tỷ người những đống xương và tàn tích được bè lũ tài chính giữ cho ngày một chất chồng cao thêm – những bài học lịch sử này hầu như không hữu ích trong việc duy trì trong giai cấp công nhân kỷ luật tự động vốn có của lao động tiền lương. Các nhà kinh tế và công chúng tư sản nói về một “làn sóng lười biếng”, theo họ, đang quét qua châu Âu và phá hoại tương lai kinh tế của nó. Các quản trị viên tìm cách khắc phục vấn đề bằng cách cấp đặc quyền cho các tầng cao nhất của tầng lớp lao động. Vô ích! Để phục hồi và phát triển hơn nữa năng suất lao động của mình, điều cần thiết là phải cải thiện phúc lợi của chính mình và nâng cao trình độ học vấn của họ, mà không để họ phải chịu nguy cơ tiêu diệt lẫn nhau. Mà những điều này lại chỉ có thể nhận được sự đảm bảo từ một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa mà thôi!

 Chi phí sinh hoạt tăng là yếu tố quan trọng nhất cho sự lên men của các cuộc cách mạng ở tất cả các nước. Giai cấp tư sản Pháp, Ý, Đức và các quốc gia khác đang nỗ lực bằng các biện pháp cứu trợ để cải thiện tình trạng khốn cùng do giá cả cao gây ra, và theo dõi sự phát triển của phong trào bãi công. Để thu hồi của giai cấp nông dân một phần chi phí sức lao động của họ, nhà nước, vốn đã ngập sâu trong nợ nần, tham gia vào các hoạt động đầu cơ mờ ám; nó ăn cắp từ chính nó để trì hoãn giờ phán quyết. Ngay cả khi một số nhóm người lao động hiện nay được hưởng mức sống cao hơn so với trước chiến tranh, thì thực tế này không phù hợp với điều kiện kinh tế thực tế của các nước tư bản. Những kết quả phù du. có được bằng cách vay mượn một cách gian lận từ tương lai, mà cuối cùng khi nó đến, nó sẽ mang theo mình một thảm họa túng thiếu và những tai ương.

 Nhưng còn Hoa Kỳ thì sao? "Nước Mỹ là niềm hy vọng của nhân loại!" Đó là qua môi của Millerand, nhà tư sản Pháp đã lặp lại cụm từ này từ Turgot[9] với hy vọng có thể trả được nợ của chính mình, mặc dù bản thân ông ta không bao giờ khất nợ cho ai. Nhưng Hoa Kỳ không có khả năng dẫn dắt Châu Âu ra khỏi ngõ cụt kinh tế của mình. Trong sáu năm qua, nguồn dự trữ nguyên liệu thô của Mỹ đã cạn kiệt. Sự thích nghi của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ với những hoàn cảnh khó khăn của Chiến tranh Thế giới đã khiến nền tảng công nghiệp của nó bị thu hẹp. Nhập cư châu Âu đã dừng lại. Một làn sóng di cư đã tước đi nền công nghiệp Mỹ hàng trăm nghìn người Đức, Ý, Ba Lan, Serb, Séc, những người bị kéo đến châu Âu bằng cách vận động chiến tranh hoặc bằng những mảnh đất của quê cha đất tổ mới giành được. Sự thiếu hụt nguyên liệu thô và lực lượng lao động như ngọn chỉ treo chuông nước cộng hòa xuyên Đại Tây Dương và đang gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc; và kết quả là, giai cấp vô sản Mỹ đang bước vào một giai đoạn đấu tranh cách mạng mới ở một nước Mỹ đang bị Âu hóa nhanh chóng.

 Các nước trung lập cũng không thoát khỏi hậu quả của chiến tranh và phong tỏa; giống như chất lỏng trong các mạch kết nối, nền kinh tế của các quốc gia tư bản liên kết với nhau, cả lớn và nhỏ, cả kẻ hiếu chiến và phe trung lập, cả kẻ chiến thắng và kẻ bại trận, đang có xu hướng tiến tới cùng một mức độ như nhau – đó là sự nghèo nàn, đói khổ và tuyệt vọng. Thụy Sĩ chỉ sống cầm hơi và mọi sự kiện bất ngờ có nguy cơ phá vỡ trạng thái cân bằng của nó. Ở Scandinavia, dòng vàng dồi dào không giải quyết được vấn đề lương thực; than phải được lấy từ nước Anh trong những lần nhỏ dãi với chiếc mũ ăn xin trong tay. Bất chấp nạn đói ở châu Âu, ngành đánh bắt cá đang phải trải qua một cuộc khủng hoảng chưa từng có ở Na Uy. Tây Ban Nha, nơi mà Pháp đã bơm người, ngựa và thực phẩm cũng không thể thoát ra khỏi tình trạng khan hiếm thực phẩm nghiêm trọng dẫn đến làn sóng các cuộc đình công như vũ bão và các cuộc biểu tình trên đường phố của quần chúng đang chết đói.

 Giai cấp tư sản dựa chắc vào nông thôn. Các nhà kinh tế tư sản khẳng định rằng phúc lợi của giai cấp nông dân đã được cải thiện đáng kể. Đây là. một ảo ảnh. Đúng là nông dân đem sản phẩm ra chợ bán đã ít nhiều thịnh vượng ở tất cả các nước trong chiến tranh. Họ bán sản phẩm của mình với giá cao và dùng tiền rẻ để trả các khoản nợ đã ký kết khi tiền còn thiếu. Đối với họ đây là một lợi thế hiển nhiên. Nhưng nền kinh tế của họ đã trở nên vô tổ chức và suy kiệt trong chiến tranh. Họ đang cần hàng hóa sản xuất, nhưng giá cho những thứ này đã tăng tỷ lệ thuận với giá trị tiền giảm dần. Những đòi hỏi của ngân sách nhà nước đã trở nên quái dị đến mức chúng đe dọa sẽ nuốt chửng tất cả ruộng đất và sản phẩm của người nông dân. Vì vậy, sau một thời gian cải thiện tạm thời, tình trạng của tầng lớp tiểu nông ngày càng trở nên khó chịu đựng hơn. Sự bất mãn của họ đối với kết quả của cuộc chiến sẽ liên tục tăng lên; và trong đội hình của quân đội chính quy, giai cấp nông dân có không ít bất ngờ khó chịu dành cho giai cấp tư sản.

 Sự phục hồi kinh tế của châu Âu, điều mà các chính khách của nó nói rất nhiều, là một lời nói dối. Châu Âu đang bị hủy hoại và cả thế giới cùng với nó.

 Trên nền tảng tư bản không có sự cứu rỗi. Chính sách của chủ nghĩa đế quốc không dẫn đến việc xóa bỏ nhu cầu mà còn làm cho nó trở nên trầm trọng thêm do sự lãng phí các nguồn dự trữ hiện có.

 Vấn đề về nhiên liệu và nguyên liệu là một câu hỏi quốc tế chỉ có thể được giải quyết trên cơ sở một nền sản xuất có kế hoạch, tập thể, xã hội chủ nghĩa.

 Cần phải hủy các khoản nợ nhà nước. Cần phải giải phóng sức lao động và các sản phẩm của nó khỏi sự cống nạp quái dị do chế độ chuyên quyền thế giới của những kẻ tống tiền. Cần phải lật đổ chế độ chuyên quyền này. Cần phải loại bỏ các rào cản có xu hướng nguyên tử hóa nền kinh tế thế giới. Hội đồng kinh tế tối cao của các đế quốc Hiệp ước phải được thay thế bằng Hội đồng kinh tế tối cao của giai cấp vô sản thế giới, để thực hiện việc khai thác tập trung mọi nguồn lực kinh tế của nhân loại.

Cần phải tiêu diệt chủ nghĩa đế quốc để tạo cơ hội sống cho loài người!

 

III. CHẾ ĐỘ TƯ SẢN SAU CHIẾN TRANH

 Toàn bộ năng lượng của các giai cấp có của tập trung vào hai vấn đề: Một là giữ vững quyền lực trong cuộc đấu tranh quốc tế và hai là ngăn chặn giai cấp vô sản trở thành người chủ đất nước. Tương ứng với điều này, các nhóm chính trị trước đây của giai cấp tư sản đã mất dần quyền lực. Không chỉ ở Nga, nơi ngọn cờ của Đảng Cadet[10] trở thành vũ đài quyết định của cuộc đấu tranh, ngọn cờ của tất cả các chủ sở hữu tài sản trong công cuộc chống lại cuộc cách mạng của công nhân và nông dân, mà ngay cả ở các nước có nền chính trị lâu đời và sâu sắc hơn về văn hóa, những chương trình trước đây vốn dùng để phân tách các tầng lớp đa dạng của giai cấp tư sản đã biến mất, hầu như không còn dấu vết, trước khi cuộc cách mạng vô sản bùng nổ.

 Lloyd George bước về phía trước với tư cách là người phát ngôn cho sự hợp nhất của Tories, Unionists [11] và Liberals trong một cuộc đấu tranh chung chống lại sự thống trị lao động đang đến gần. Nhà kẻ mị dân đáng kính này coi nhà thờ thánh thiện như một trung tâm quyền lực thứ nuôi dưỡng tất cả các đảng phái của các giai cấp phù hợp.

 Ở Pháp, thời kỳ chống chủ nghĩa giáo sĩ, rất ồn ào chỉ cách đây một thời gian ngắn, có vẻ như chỉ còn là một bóng ma đài các. Những người Cấp tiến, Bảo hoàng và Công giáo hiện đã được thiết lập trong một khối “luật pháp và trật tự quốc gia” chống lại giai cấp vô sản đang ngóc đầu dậy. Sẵn sàng ra tay với mọi thế lực chống lại nó, chính phủ Pháp ủng hộ trùm xã hội đen Wrangel và thiết lập lại quan hệ ngoại giao với Vatican.

 Giolitti[12] , người được khẳng định là người ủng hộ trung lập và kẻ thân Đức, đã nắm quyền lãnh đạo chính phủ Ý với tư cách là nhà lãnh đạo chung của những người theo chủ nghĩa can thiệp, những người trung lập, giáo sĩ và những người theo chủ nghĩa Mazziniists.[13] Ông ta sẵn sàng giải quyết các vấn đề tầm thường về chính sách đối nội và đối ngoại nhằm đẩy lùi cuộc tấn công của những người cách mạng vô sản ở thành phố và cả nước một cách tàn nhẫn hơn. Chính phủ của Giolitti đúng ra coi mình là thành lũy quan trọng cuối cùng của giai cấp tư sản Ý.

 Chính sách của tất cả các chính phủ và đảng phái chính phủ Đức kể từ sau sự sụp đổ của Hohenzollern là tìm được tiếng nói chung với những kẻ thống trị trong Hiệp ước ở sự căm ghét chủ nghĩa Bolshevism, tức là cách mạng vô sản.

 Trong khi những kẻ cho vay nặng lãi Anh-Pháp đang ngày càng siết chặt hơn cái thòng lọng quanh cổ người dân Đức, thì giai cấp tư sản Đức, bất kể liên kết với đảng nào, nài nỉ kẻ thù của mình nới lỏng thòng lọng đủ sao cho nó có thể tự tay mình nghiền nát đội tiền phong của giai cấp vô sản. Đây là ý chính của các hội nghị và thỏa thuận định kỳ về giải giáp vũ khí và chuyển giao tài liệu chiến tranh.

  Ở Mỹ, ranh giới giữa đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ đã bị xóa nhòa hoàn toàn. Hai tổ chức chính trị quyền lực này của những kẻ bóc lột, thích ứng với vòng quan hệ chật hẹp cho đến nay của Hoa Kỳ, đã bộc lộ sự rỗng tuếch hoàn toàn ngay khi giai cấp tư sản Hoa Kỳ bước vào đấu trường cướp bóc của thế giới.

 Chưa bao giờ những mưu đồ của các nhà lãnh đạo và bè phái riêng lẻ – trong phe đối lập cũng như trong các Bộ – lại được đánh dấu bằng chủ nghĩa hoài nghi công khai như lúc này. Nhưng đồng thời tất cả những nhà lãnh đạo, bè phái, đảng phái của giai cấp tư sản thế giới đang xây dựng một mặt trận thống nhất nhằm chống lại giai cấp vô sản cách mạng.

 Trong khi các khối Xã hội-Dân chủ vẫn kiên trì bằng con đường dân chủ “hòa bình” nhằm chống lại con đường bạo lực của chế độ độc tài, những dấu tích cuối cùng của nền dân chủ đang bị chà đạp và bị phá hủy ở mọi nhà nước trên khắp thế giới.

 Kể từ sau chiến tranh, trong đó các cơ quan bầu cử liên bang đóng vai trò là những người yêu nước bất lực nhưng ồn ào đối với các bè phái đế quốc cầm quyền tương ứng của họ, các quốc hội đã rơi vào tình trạng hoàn toàn phục tùng. Tất cả các vấn đề quan trọng bây giờ được quyết định bên ngoài quốc hội. Về phương diện này, chẳng có gì được thay đổi một cách đáng chú ý bằng việc trưng lên trên cửa số các đặc quyền của nghị viện, được công bố long trọng bởi những tên lang băm đế quốc ở Ý cũng các nước khác. Những chủ nhân thực sự của hiện trạng và những người kẻ trị vận mệnh của nhà nước vẫn là – Lord Rothschild và Lord Weir [14] , Morgan và Rockefeller, Schneider và Loucheur [15] , Hugo Stinnes và Felix Deutsch [16] , Rizzello và Agnelli [17] – những vị vua vàng, than, dầu và kim loại này – mới là những người hoạt động đằng sau hậu trường, những kẻ đã cử các tuyên úy hạng hai của họ vào quốc hội – để thực hiện chỉ thị của họ.

 Quốc hội Pháp – bị mất uy tín hơn bất kỳ quốc gia nào khác bởi những lời ngụy biện về sự giả dối, thói giễu cợt và mại dâm, và sở thích chủ yếu nằm ở thủ tục đọc ba lần những hành vi lập pháp tầm thường nhất – quốc hội này đột nhiên biết rằng bốn tỷ đô la đã bị chiếm đoạt để phục hồi các vùng bị tàn phá của Pháp đã được Clemenceau sử dụng cho các mục đích hoàn toàn khác, đặc biệt là làm cho các vùng của nước Nga bị tàn phá thêm.

 Phần lớn các thành viên của quốc hội được cho là toàn quyền của Anh hiếm khi được thông báo nhiều hơn về ý định thực sự của Lloyd George và Lord Curzon [18] đối với nước Nga Xô Viết, hay thậm chí cả nước Pháp, hơn những bà già trong các ngôi làng ở Bengal.

 Tại Hoa Kỳ, Quốc hội là một bản hợp xướng ngoan ngoãn hoặc bất mãn đối với Tổng thống, người tự cho mình là một sinh vật của bộ máy bầu cử, đến lượt nó lại trở thành bộ máy chính trị của các ủy thác – kể từ sau chiến tranh hơn bao giờ hết.

 Chủ nghĩa nghị viện muộn màng của nước Đức, một quái thai của cuộc cách mạng tư sản, mà bản thân nó là một quái thai của lịch sử, ngay từ khi còn sơ sinh đã mắc phải mọi căn bệnh đặc biệt đáng nguyền rủa vì sự già nua của họ. Reichstag “dân chủ nhất trên thế giới” của nước cộng hòa Ebert bất lực, không chỉ trước đòn roi của Thống chế Foch mà ngay cả trước sự thao túng thị trường chứng khoán của chính Stinneses, chứ đừng nói đến âm mưu quân sự của bè lũ sĩ quan. Nền dân chủ nghị viện của Đức không là gì khác ngoài khoảng trống giữa hai chế độ độc tài.

 Chính thành phần của giai cấp tư sản đã trải qua những biến đổi sâu sắc trong quá trình chiến tranh. Trong bối cảnh bần cùng hóa phổ biến trên toàn thế giới, việc tập trung tư bản đã có một bước tiến đột ngột và to lớn. Các công ty cho đến nay vẫn đứng trong bóng tối đã bước lên hàng đầu. Sự vững chắc, ổn định, khuynh hướng thỏa hiệp “hợp lý”, tuân thủ một quy tắc nhất định cả trong khai thác và sử dụng thành quả của nó – tất cả những điều này đã bị cuốn trôi bởi cơn lũ đế quốc.

 Cảnh đập ngay trước mắt là sự đi lên của lũ giàu xổi: những nhà thầu chiến tranh, những kẻ trục lợi kém chất lượng, những kẻ mới nổi, những nhà thám hiểm quốc tế, những kẻ buôn lậu, những kẻ tị nạn từ công lý rải đầy kim cương, mọi hạng cặn bã tham lam vô độ với sự xa hoa và không từ bất kỳ sự thú tính nào nhằm chống lại cuộc cách mạng vô sản mà họ chẳng thể mong đợi gì ngoài sợi thòng lọng treo cổ. Hệ thống hiện tại đứng trước quần chúng trong tất cả sự trần trụi của nó như là quy luật của chế độ dân quyền. Ở Mỹ, ở Pháp, ở Anh, sự ham mê xa hoa thời hậu chiến đã trở thành một đặc tính điên cuồng. Paris, với lũ ăn bám lòng yêu nước quốc tế, giống như Le Temps [19] đã thừa nhận, giống như Babylon vào đêm trước ngày tàn của nó.

 Chính trị, tòa án, báo chí, nghệ thuật và nhà thờ đều phù hợp với giai cấp tư sản này. Tất cả sự kiềm chế đã được ném vào gió. Wilson, Clemenceau, Millerand, Lloyd George và Churchill [20] không biết thẹn trước sự lừa dối trơ trẽn nhất và những lời nói dối lớn nhất và cả khi bị bắt quả tang, họ vẫn bình tĩnh tiếp tục những chiến công tội phạm mới. Các quy tắc cổ điển về sự trùng lặp chính trị như Machiavelli cũ đã giải thích[21] trở thành những câu cách ngôn ngây thơ của một tay mở tỉnh lẻ so với những nguyên tắc hướng dẫn các chính khách tư sản ngày nay. Các tòa án luật, trước đây che giấu bản chất tư sản của họ dưới chế độ dân chủ, nay đã công khai trở thành cơ quan của sự tàn bạo giai cấp và kích động phản cách mạng. Các thẩm phán của Đệ tam Cộng hòa đã không chớp mắt, tuyên bố trắng án cho kẻ sát nhân Jaurès. Các tòa án của Đức, quốc gia tự xưng là nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, đưa ra lời động viên đối với những kẻ sát hại Karl Liebknecht, Rosa Luxemburg và nhiều kẻ tử đạo khác của giai cấp vô sản. Các tòa án pháp lý của các nền dân chủ tư sản đã trở thành cơ quan pháp lý hóa mọi tội ác của Khủng bố Trắng.

 Báo chí tư sản đã công khai khắc dấu hối lộ, giống như thương hiệu, trên trán. Những tờ báo hàng đầu của giai cấp tư sản thế giới là những công xưởng quái dị của sự giả dối, bôi nhọ và đầu độc tinh thần.

 Tâm trạng của giai cấp tư sản cũng dao động lo lắng như giá cả trên thị trường. Trong những tháng đầu tiên sau khi chiến tranh kết thúc, giai cấp tư sản quốc tế, đặc biệt là người Pháp, đã run lên vì ớn lạnh và phát sốt vì lo sợ chủ nghĩa Cộng sản đang hoành hành. Nó đánh giá mức độ nguy hiểm sắp xảy ra của nó bằng sự khổng lồ của những tội ác đẫm máu mà nó đã gây ra. Nhưng nó đã có thể chống chọi với cuộc tấn công đầu tiên. Các đảng Xã hội chủ nghĩa và các tổ chức công đoàn của Quốc tế thứ hai, bị ràng buộc bởi những xiềng xích tội lỗi chung với giai cấp tư sản, đã khiến cho nó cuối cùng phủ phục bằng cách hứng chịu đòn phẫn nộ đầu tiên từ những người cùng khổ. Với cái giá là sự sụp đổ hoàn toàn của Quốc tế thứ hai, giai cấp tư sản đã mua được thời gian nghỉ ngơi. Các cuộc bầu cử phản cách mạng vào quốc hội do Clemenceau thiết kế, một vài tháng cân bằng không ổn định, và sự thất bại của cuộc bãi công tháng Năm – những điều này đủ để làm cho giai cấp tư sản Pháp tin tưởng vào sự đảm bảo an ninh từ chế độ của mình. Sự kiêu ngạo giai cấp của nó đã tăng lên cùng tầm cao ngày hôm nay cũng như nỗi sợ hãi của nó ngày hôm qua.

  Đe doạ đã trở thành phương tiện thuyết phục duy nhất của giai cấp tư sản. Giai cấp tư sản không tin vào lời nói, chúng đòi hỏi những việc: bắt bớ, giải tán (biểu tình), tịch thu tài sản, đội xử bắn. Phấn đấu để gây ấn tượng với giai cấp tư sản, bộ trưởng tư sản và nghị sĩ đặt ra như những người đàn ông thép. Lloyd George khuyên các bộ trưởng Đức bắn Chiến sĩ Công xã của họ, noi gương nước Pháp vào năm 1871. Bất kỳ viên chức hạng ba nào cũng có thể đạt được những lời khen ngợi xôn xao trong Hạ viện miễn là anh ta kết thúc bản báo cáo không chính đáng của mình với một vài lời đe dọa được đề cập đến những người lao động.

 Trong khi bộ máy nhà nước chính thức ngày càng được công khai biến thành một tổ chức chuyên đàn áp những người cùng khổ, song song với nó, dưới sự bảo trợ và tùy ý của nó, nhiều tổ chức phản cách mạng tư nhân đang được thành lập – để phá vỡ các cuộc đình công bằng vũ lực, đối với các hành vi khiêu khích, dàn dựng các vụ xét xử có khung, phá hoại các tổ chức cách mạng, đột kích và chiếm giữ các cơ sở Cộng sản, tổ chức các vụ bạo loạn và bạo động, ám sát các nhà lãnh đạo cách mạng và các biện pháp tương tự khác nhằm bảo vệ quyền tư hữu và dân chủ.

 Những đứa con trai nhỏ tuổi của địa chủ và của giai cấp đại tư sản, những tiểu tư sản đã mất khả năng lao động, và tất cả những phần tử bị đào thải khác, trong số đó những người thuộc tầng lớp tư sản-quý tộc từ nước Nga Xô Viết chiếm vị trí nổi bật nhất, tạo thành một kho chứa vô tận cho các đội du kích của phản cách mạng. Đứng đầu họ là đoàn sĩ quan đã trải qua trường học tàn sát của đế quốc.

 Khoảng 20.000 sĩ quan chuyên nghiệp của quân đội Hohenzollern đã tự hình thành – đặc biệt là sau cuộc nổi dậy Kapp-Luettwitz[22] – một hạt nhân phản cách mạng mạnh mẽ mà nền dân chủ Đức bất lực để giải thể và chỉ có thể bị nghiền nát bởi búa tạ của chế độ chuyên chính vô sản. Tổ chức tập trung của những kẻ khủng bố chế độ cũ này được bổ sung bởi các đội du kích Bạch vệ được tổ chức trên các khu đất của Junker.

 Tại Hoa Kỳ, các tổ chức như “National Security League”, “Loyal American League” và “Knights of Liberty” khác tạo thành những đội quân tiền phong của chủ nghĩa tư bản, ở các cánh cực đoan điều hành các băng nhóm giết người bình thường dưới sự giám sát của thám tử tư của các cơ quan. Ở Pháp, Ligue Civique đại diện cho một tổ chức được xã hội lựa chọn gồm những người bãi công, trong khi Liên đoàn Lao động cải cách đã bị đặt ngoài vòng pháp luật.

 Các sĩ quan Mafia của White Hungary, tồn tại một cách bí mật cùng với chính phủ phản cách mạng do Anh hỗ trợ, đã mang đến cho giai cấp vô sản thế giới một hình mẫu cho “sự khai hóa và chủ nghĩa nhân đạo” mà Wilson và Lloyd George chủ trương nhằm chống lại quyền lực và bạo lực cách mạng của Liên Xô.

 Các chính phủ “dân chủ” của Phần Lan và Georgia, Latvia và Estonia, đang nỗ lực hết mình để mô phỏng mô hình đã hoàn thiện của Hungary này.

 Ở Barcelona có một băng nhóm sát thủ ngầm, hoạt động theo lệnh của cảnh sát. Và vì vậy nó tự do, và vì vậy nó ở khắp mọi nơi.

 Ngay cả ở một đất nước bại trận và đổ nát như Bulgaria, các sĩ quan, không có việc làm, đang đoàn kết thành các hội kín, mang lại cơ hội đầu tiên để thể hiện lòng yêu nước của họ trên lưng và xương máu của công nhân Bulgaria.

 Chương trình xoa dịu các mâu thuẫn, chương trình hợp tác giai cấp, cải cách nghị viện, xã hội hóa dần dần và đoàn kết dân tộc xuất hiện giống như một trò đùa nghiệt ngã khi đối mặt với chế độ tư sản như nó đã xuất hiện sau Thế chiến.

 Giai cấp tư sản đã hoàn toàn từ bỏ ý định hòa giải giai cấp vô sản bằng biện pháp cải tạo. Nó làm băng hoại một tầng lớp quý tộc lao động tầm thường chỉ với một vài cú sụt giảm và khiến cho quần chúng vĩ đại phải chịu khuất phục bởi máu và sắt.

 Ngày nay không có một vấn đề nghiêm trọng nào được quyết định bằng lá phiếu. Về dân chủ, không có gì còn lưu lại ký ức trong hộp sọ của những người cải cách. Toàn bộ tổ chức nhà nước đang ngày càng trở lại hình thức ban đầu của nó, tức là những đội vũ trang. Thay vì đếm phiếu bầu, giai cấp tư sản bận rộn đếm lưỡi lê, súng máy và đại bác, những thứ sẽ sử dụng vào lúc này khi câu hỏi về quyền lực và hình thức tài sản được đặt ra để quyết định.

Không có chỗ cho sự cộng tác hay hòa giải. Để tự cứu mình, chúng ta phải lật đổ giai cấp tư sản. Điều này chỉ có thể đạt được bằng sự vươn lên của giai cấp vô sản.

 


*Ghi chú:

[1] Syria, từng là một quốc gia bảo hộ của Pháp, trên thực tế đã trở thành thuộc địa của Pháp sau Hiệp ước Versailles.

[2] Học thuyết Monroe – được Tổng thống Monroe công bố ngày 2 tháng 12 năm 1823; chỉ công nhận chủ quyền của nước ngoài tại các thuộc địa của Mỹ do các cường quốc châu Âu nắm giữ an toàn, cam kết ủng hộ Hoa Kỳ đối với tất cả các thuộc địa đang đấu tranh giành độc lập và cấm bất kỳ cường quốc châu Âu nào trong tương lai thực dân Mỹ. Một số thuộc địa của người Mỹ gốc Tây Ban Nha đã nổi dậy. Nga, lãnh thổ thèm muốn ở phía tây bắc, đã đề xuất hành động chung của châu Âu chống lại các cuộc nổi dậy. Nhưng Anh, đã thiết lập một nền thương mại sinh lợi ở các thuộc địa Tây Ban Nha sau khi thế độc quyền của Madrid bị phá vỡ, đã từ chối viện trợ cho Tây Ban Nha và đề nghị hợp tác Anh-Mỹ trong cuộc tranh cãi. Do đó, với sự hậu thuẫn của hạm đội Anh, Hoa Kỳ khi đó tương đối yếu có thể tuyên bố và thực thi Học thuyết Monroe. Đến năm 1895, Hoa Kỳ đã phát triển mạnh mẽ đến mức Tổng thống Cleveland, đang bị đe dọa chiến tranh, có thể buộc Anh phải phân xử tranh chấp ranh giới giữa Guiana thuộc Anh và Venezuela. Chủ nghĩa đế quốc Yankee đã trở thành tối cao ở Tây bán cầu.

[3] Tham chiếu ở đây là Tiệp Khắc.

[4] Denikin – một vị tướng Czarist lỗi lạc, người đã trở thành một trong những thủ lĩnh của cuộc phản cách mạng trong những năm Nội chiến. Vào mùa thu năm 1919, quân đội của Denikin gần như đã đến được Tula. Sau khi người da trắng bị tiêu diệt, Denikin khởi hành đến châu Âu để viết hồi ký.

[5] Wrangel đã đi đầu trong cuộc Nội chiến Nga. Sau thất bại của Denikin, Wrangel – với tư cách là một vị tướng “tự do hơn” – được người da trắng bầu vào vị trí tổng tư lệnh. Trong gần một năm, Wrangel đã thành công ở lại Crimea. Chỉ vào mùa thu năm 1920, cuộc tấn công anh dũng của Hồng quân đã phá bỏ quyền thống trị của Wrangel ở Crimea và ông ta buộc phải chạy trốn cùng tàn quân của mình tới Thổ Nhĩ Kỳ và Balkan.

[6] Xô viết Hungary được công bố vào ngày 21 tháng 3 năm 1919, khi chính phủ tư sản Karolyi tự nguyện nhường quyền lực cho Liên Xô. Vào ngày 1 tháng 8 năm 1919, chính phủ công nhân này bị lật đổ bởi sự can thiệp của Đội quân bạch vệ của những người nhập cư. Quyền lực của Liên Xô đã được thay thế bởi chế độ độc tài man rợ của Đô đốc Horthy, nó duy trì chính nó trong suốt thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới.

[7] Để đánh tan Thổ Nhĩ Kỳ và thiết lập sự thống trị không thể tranh cãi của cô đối với Cận Đông, đế quốc Anh đã lôi kéo nhà nước chư hầu của họ, Hy Lạp, trong một cuộc chiến với Thổ Nhĩ Kỳ. Cuộc đấu tranh kéo dài từ năm 1921 đến mùa thu năm 1922. Được sự ủng hộ của Nga Xô viết và Pháp, những người sợ sự thống trị hoàn toàn của Anh ở Tiểu Á, cuối cùng Thổ Nhĩ Kỳ đã thành công hoàn toàn trong việc đánh bại quân đội Hy Lạp.

[8] Samuel Gompers – nhà lãnh đạo cực kỳ bảo thủ của bộ máy hành chính AFL, người coi Tổ chức Công đoàn Quốc tế Amsterdam màu vàng cũng quá “đỏ”. Gompers là kẻ thù cay đắng nhất của phong trào cách mạng, và luôn hỗ trợ chính phủ và giới chủ trong cuộc chiến chống lại nó.

[9] Turgot – nhà quý tộc, nhà tài phiệt và bộ trưởng người Pháp thời Louis XVI. Ông cố gắng giải quyết mâu thuẫn giữa sự thống trị của chế độ quân chủ tuyệt đối và nhu cầu của sự phát triển tư bản chủ nghĩa bằng cách nhượng bộ giai cấp tư sản. Chế độ chuyên quyền của Pháp trong thời đại này đã nợ nần một cách vô vọng.

[10] Đảng Thiếu sinh quân – đảng của giai cấp tư sản Nga, đảng Dân chủ lập hiến. Thuật ngữ "Cadets" bắt nguồn từ các chữ cái tiếng Nga trong tên của đảng này.

[11] “Những người theo chủ nghĩa thống nhất” – một nhóm chính trị ở Anh, do Churchill và những người khác đứng đầu, có kế hoạch chính là sự thống nhất của Tories và Tự do. [ Cơ sở cho ghi chú này là đáng nghi vấn. Trong thời kỳ này “Những người theo chủ nghĩa thống nhất” là những lực lượng chính trị chống lại Quy tắc tại gia cho Ireland và cam kết bảo tồn Liên minh các nước Anh và Ireland, tức là trật tự hiến pháp hiện hành. Tên đầy đủ của Đảng Bảo thủ Anh hiện đại vẫn là "Đảng Bảo thủ và Liên hiệp". – TIA ]

[12] Giolitti – nhà lãnh đạo giai cấp tư sản Ý, người chuyên sử dụng những người cải cách để ngăn cản cuộc cách mạng sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ông ấy từng là thủ tướng nhiều lần. Sau khi Mussolini được thừa nhận quyền lực, ông đã trở thành “phe đối lập”. Giolitti chết trước khi giai cấp tư sản Ý có thể sử dụng anh ta trở lại sau sự sụp đổ của Mussolini, vì nó có một trong những đồng nghiệp của anh ta, Bonomi.

[13] Mazzini-ists – tín đồ của Mazzini, nhà lãnh đạo của phong trào cách mạng quốc gia Ý thống nhất trong phần đầu của thế kỷ XIX. Phong trào của Mazzini chủ yếu nhằm chống lại Áo phản động.

[14] Rothschild, Weir & Co. vào thời điểm đó là một trong những công ty ngân hàng lớn nhất ở Anh.

[15] Schneider – nhà công nghiệp người Pháp, chủ sở hữu của các nhà máy bom, đạn lớn nhất và các xí nghiệp khác.

Loucheur – một nhà tư bản lớn khác của Pháp, người thường làm Bộ trưởng Bộ Tài chính trong nhiều tủ khác nhau.

[16] Hugo Stinnes – vị vua không đăng quang của nước Đức thời hậu Versailles. Trong thời kỳ đó, ông đã kiểm soát một đế chế công nghiệp rộng lớn và toàn bộ đời sống kinh tế của đất nước. Tên của ông đã trở thành đồng nghĩa với xu hướng của một nhóm thống trị ngành công nghiệp của một quốc gia ("Stinnezation").

Felix Deutsch – nhà công nghiệp lớn người Đức.

[17] Rizello và Agnelli – những nhà công nghiệp và chủ ngân hàng lớn của Ý. Họ đã tài trợ cho Mussolini và Áo sơ mi đen của anh ta.

[18]. Lord Curzon – Tory người Anh chuyên về chính sách đối ngoại. Trong những ngày trước năm 1914, ông giữ chức Phó vương của Ấn Độ; ở tuổi hai mươi với cương vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Trong bài đăng sau này, ông cùng với đồng nghiệp Churchill tự nhận mình là kẻ thù hung hãn và tàn bạo của nước Nga Xô Viết.

[19] Le Temps (Paris Times ) – cơ quan của giai cấp tư sản Pháp, lớp em gái của London Times và New York Times .

[20] Winston Churchill – đại diện có ý thức giai cấp nhất của giai cấp tư sản Anh, kẻ thù truyền kiếp của giai cấp công nhân thế giới. Churchill sớm thể hiện sự linh hoạt và cơ sở lớn nhất trong chính trị. Từ năm 1900 đến 1906, ông thuộc đảng Tory và tranh cử với tấm vé Tory vào quốc hội; từ năm 1906 đến năm 1922, ông hoạt động như một thành viên của Đảng Tự do, và sau đó tiếp tục lại với nhãn hiệu Tory. Ông giữ nhiều chức vụ trong nội các. Vào năm 1910-11, ông tự nhận mình là Bộ trưởng Nội vụ (Bộ trưởng Bộ Nội vụ) bằng cách kêu gọi quân đội chống lại các tiền đạo ở Liverpool và các nơi khác. Churchill là người tiền nhiệm của Curzon trong Bộ Ngoại giao và là một trong những người truyền cảm hứng chính cho sự can thiệp của chủ nghĩa đế quốc vào Nga sau Cách mạng Tháng Mười. Ông rất ngưỡng mộ Mussolini và cũng hết sức ghê tởm Trotsky.

[21] Machiavelli, chính trị gia, nhà ngoại giao, nhà sử học và nhà văn nổi tiếng đầu thế kỷ XVI. Ông được công nhận là người sáng lập của khoa học chính trị. Marx coi Lịch sử Florence là một kiệt tác. Machiavelli là một nhà tư tưởng tiến bộ và độc đáo trong thời đại của ông. Người tổ chức lực lượng dân quân nổi tiếng đầu tiên và là tác giả của một luận thuyết về chiến tranh, ông được ghi nhận là "nhà tư tưởng quân sự đầu tiên của châu Âu hiện đại”Ông chủ trương thống nhất nước Ý. Machiavelli ủng hộ một nền cộng hòa, nhưng chế độ “lý tưởng” trong thời của ông là chế độ quân chủ tuyệt đối tập trung. Trong cuốn sách của mình, The Prince and The Discourses, Machiavelli đã chứng minh rằng để duy trì chế độ giai cấp, bất kỳ và mọi phương tiện đều được sử dụng và biện minh bởi những người phát ngôn của giai cấp thống trị. Trớ trêu thay, tên tuổi của ông đã trở nên gắn liền với việc sử dụng các biện pháp sư phạm, lừa dối và tàn nhẫn trong chính trị và các phương pháp mà ông đã nghiên cứu – những phương pháp hiện được các chính trị gia đế quốc sử dụng để duy trì chủ nghĩa tư bản đang chết dần – được gọi là “Chủ nghĩa Machiavelli”.

[22] Cuộc nổi dậy Kapp-Lüttwitz xảy ra vào năm 1920 và là nỗ lực đầu tiên của cuộc phản cách mạng Đức nhằm giải thể Cộng hòa Weimar và nền “dân chủ” của nó bằng vũ trang. Bất chấp sự thụ động của chính phủ Ebert-Scheidemann, cuộc chiến này đã bị dập tắt bởi sự phản kháng của những người lao động. Điều này làm mất uy tín của cả Scheidemann và Noske

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments