Lao động làm thuê và tư bản (1847) – Lợi ích đối lập

*Mục lục:


LỢI ÍCH CỦA TƯ BẢN VÀ LAO ĐỘNG LÀM THUÊ LÀ HOÀN TOÀN ĐỐI LẬP – TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC TĂNG TƯ BẢN SẢN XUẤT VỚI TIỀN LƯƠNG

 

 Vậy, ta thấy rằng, ngay cả khi đứng trong quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, thì lợi ích của chúng vẫn đối lập hẳn với nhau.

 

 Tư bản tăng nhanh đồng nghĩa với lợi nhuận tăng nhanh. Lợi nhuận chỉ tăng nhanh khi mà giá của lao động, tức là tiền lương tương đối, giảm xuống cũng nhanh như thế. Tiền lương tương đối có thể giảm, ngay cả khi tiền lương thực tế và tiền lương danh nghĩa (tức là giá trị bằng tiền của lao động) đều tăng, chỉ cần tiền lương thực tế không tăng cùng tỷ lệ với lợi nhuận. Ví dụ, nếu trong những năm kinh doanh thuận lợi, tiền lương tăng 5%, còn lợi nhuận tăng 30%, thế thì tiền lương so sánh tương đối không tănggiảm.

 

 Vậy, nếu thu nhập của công nhân tăng lên cùng với sự tăng nhanh tư bản, thì cùng lúc đó, cái vực thẳm xã hội giữa công nhân và nhà tư bản cũng rộng ra; quyền lực của tư bản với lao động, sự lệ thuộc của lao động vào tư bản, đều tăng lên.

 

 Nói rằng "công nhân quan tâm đến sự tăng nhanh tư bản" thì chỉ có nghĩa là: công nhân càng làm tăng của cải của nhà tư bản, thì những mảnh vụn mà anh ta nhận được càng to hơn, số công nhân sẽ đông hơn, đám đông nô lệ phụ thuộc vào nhà tư bản cũng nhiều lên.

 

 Vậy ta thấy rằng:

 

 Ngay cả hoàn cảnh thuận lợi nhất cho công nhân, tức là tư bản tăng nhanh hết sức, cũng không xóa bỏ sự đối lập về lợi ích giữa công nhân và nhà tư bản, dù nó có cải thiện đời sống vật chất của công nhân đến mức nào đi nữa. Lợi nhuận và tiền lương vẫn tỉ lệ nghịch với nhau như trước.

 

 Nếu tư bản tăng nhanh thì tiền lương có thể tăng, nhưng lợi nhuận của nhà tư bản lại tăng lên vô cùng nhanh hơn. Địa vị vật chất của công nhân khá lên, nhưng cái giá phải trả là địa vị xã hội của anh ta hạ xuống. Vực thẳm xã hội ngăn cách anh ta và nhà tư bản lại rộng ra.

 

  Cuối cùng:

 

 Nói rằng "điều kiện thuận lợi nhất cho lao động làm thuê là sự tăng nhanh hết sức của tư bản sản xuất" thì cũng như nói rằng: giai cấp công nhân càng tăng lên, và càng làm mạnh thêm cái thế lực thù địch với nó, tức là của cải của kẻ khác đang thống trị giai cấp ấy; thì nó càng có điều kiện thuận lợi để lại lao động, để tăng thêm của cải của giai cấp tư sản, để tăng cường thể lực của tư bản; do đó mà chấp nhận việc tự rèn cho mình những xiềng xích bằng vàng, để giai cấp tư sản dắt mình đi theo.

 

[1]Sự tăng lên của tư bản sản xuấtsự tăng lên của tiền lương – có thật là chúng gắn bó với nhau, không thể tách rời, như các nhà kinh tế học tư sản khẳng định? Ta không nên tin lời họ. Ta không thể tin họ, ngay cả khi họ nói là tư bản càng béo tốt thì nô lệ của chúng càng được chăm chút. Giai cấp tư sản quá sáng suốt, quá chi li tính toán; nó không thể chia sẻ cái thành kiến của tên chúa phong kiến, kẻ thường phô trương sự hào nhoáng của đoàn tùy tùng của mình. Những điều kiện tồn tại của giai cấp tư sản buộc nó phải chi li.

 

 Vì vậy ta phải nghiên cứu kỹ hơn vấn đề sau đây:

 

 Sự tăng tư bản sản xuất ảnh hưởng tới tiền lương như thế nào?

 

 Nếu toàn bộ tư bản sản xuất trong xã hội tư sản tăng lên, thì lao động được tích lũy theo nhiều mặt hơn. Tư bản cá nhân tăng lên, cả về số lượng và quy mô. Số lượng tư bản cá nhân tăng lên thì cạnh tranh giữa các nhà tư bản cũng tăng. Sự tăng quy mô của tư bản cho phép đưa các đạo quân công nhân hùng hậu hơn, với những công cụ chiến tranh to lớn hơn, vào chiến trường công nghiệp.

 

 Một nhà tư bản có thể loại kẻ khác khỏi vòng chiến đấu, và chiếm lấy tư bản của kẻ đó, chỉ với việc bán rẻ hơn. Để có thể bán rẻ hơn mà không phá sản, thì ông ta phải sản xuất rẻ hơn, tức là phải tăng sức sản xuất của lao động lên hết mức.

 

 Nhưng trên hết, sức sản xuất của lao động tăng lên là nhờ phân công lao động kĩ hơn, áp dụng máy móc nhiều hơn, và luôn cải tiến máy móc đó. Đạo quân công nhân – trong đó lao động được phân công – mà càng lớn, quy mô sử dụng máy móc mà càng lớn; thì chi phí sản xuất càng giảm đi một cách tương đối, lao động càng có năng suất. Do đó mà có sự ganh đua toàn diện giữa các nhà tư bản, để tăng cường phân công lao động, tăng cường máy móc, và sử dụng hai cái đó trên quy mô lớn nhất có thể.

 

 Bây giờ, nếu nhờ việc phân công lao động tốt hơn, nhờ sử dụng và cải tiến các máy móc mới, nhờ việc khai thác các năng lượng tự nhiên tốt hơn và nhiều hơn; một nhà tư bản có thể dùng cùng một lượng lao động (là tích lũy hay trực tiếp thì cũng thế) mà sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn so với những kẻ cạnh tranh, ví dụ như sản xuất 1 mét vải lanh trong khoảng thời gian bằng với thời gian những kẻ kia làm ra nửa met; khi đó, nhà tư bản ấy sẽ làm gì?

 

 Ông ta có thể bán nửa mét vải lanh theo giá cũ trên thị trường, nhưng thế thì không loại được đối thủ ra khỏi vòng chiến, hay mở rộng được thị trường của mình. Trong khi đó, nhu cầu thị trường của ông ta sẽ tăng lên cùng với mức tăng sức sản xuất. Thực tế là những phương tiện sản xuất mạnh hơn và đắt hơn – mà ông ta có được – cho phép ông ta bán hàng rẻ hơn, nhưng nó cũng buộc ông ta phải bán nhiều hàng hơn, phải kiểm soát được một thị trường vô cùng lớn hơn cho hàng hóa của mình; do đó, nhà tư bản ấy sẽ bán nửa mét vải lanh với giá rẻ hơn các đối thủ cạnh tranh.

 

 Nhưng nhà tư bản sẽ không bán 1 mét vải lanh bằng với mức giá mà những người kia bán nửa met, dù chi phí sản xuất ra 1 met của ông ta không nhiều hơn chi phí sản xuất ra nửa mét của người khác. Nếu không làm thế thì ông ta sẽ không thu được lợi nhuận thêm nào cả, mà chỉ bù lại được chi phí sản xuất thôi. Ông ta có thể vẫn kiếm về nhiều thu nhập hơn, nhưng là vì ông ta sử dụng nhiều tư bản hơn, chứ không phải vì tư bản của ông ta tạo ra nhiều lợi nhuận hơn các tư bản khác. Vả lại, ông ta vẫn đạt được mục tiêu của mình, nếu bán hàng hóa của mình với giá chỉ thấp hơn vài % so với các đối thủ. Ông ta loại họ khỏi vòng chiến, ít ra cũng chiếm lấy một phần thị trường của họ, bằng cách hạ giá.

 

 Cuối cùng, hãy nhớ là giá thông thường luôn thấp hơn hoặc cao hơn chi phí sản xuất, tùy theo việc bán hàng hóa diễn ra trong thời kỳ công nghiệp thuận lợi hay không. Tùy theo giá thị trường của 1 mét vải lanh đứng cao hơn hay thấp hơn chi phí sản xuất cũ, mà số % nhà tư bản kiếm được trội hơn chi phí sản xuất thực của mình – do việc sử dụng phương tiện sản xuất mới có năng suất cao hơn – sẽ biến đổi.

 

 Nhưng đặc quyền của nhà tư bản của chúng ta sẽ không kéo dài. Các nhà tư bản cạnh tranh với ông ta cũng sẽ sử dụng những máy móc ấy, cách phân công lao động ấy, trên một quy mô như thế hoặc thậm chí lớn hơn. Và cuối cùng, những cải tiến đó sẽ trở nên phổ biến đến mức, giá của vải lanh sẽ không chỉ thấp hơn chi phí sản xuất cũ, mà còn thấp hơn cả chi phí sản xuất mới.

 

 Vậy là trong quan hệ với nhau, các nhà tư bản lại thấy mình ở vào đúng cái tình thế trước khi áp dụng các phương tiện sản xuất mới; và nếu trước đây, họ có thể bán số sản phẩm nhiều gấp đôi, với giá cũ; thì bây giờ, họ buộc phải bán số sản phẩm nhiều gấp đôi ấy, với giá thấp hơn giá cũ. Khi chạm đến cái mức mới, tức là chi phí sản xuất mới, thì cuộc chiến giành ưu thế trên thị trường diễn ra lại từ đầu. Phân công lao động hơn nữa, sử dụng máy móc hơn nữa, và áp dụng các biện pháp đó trên quy mô lớn hơn nữa. Và cạnh tranh một lần nữa đem lại chính cái phản ứng tương tự với kết quả đó.

 

TÁC ĐỘNG CỦA CẠNH TRANH GIỮA CÁC NHÀ TƯ BẢN TỚI GIAI CẤP CÁC NHÀ TƯ BẢN, GIAI CẤP TRUNG GIAN, VÀ GIAI CẤP CÔNG NHÂN

 

 Thế là ta đã thấy: làm thế nào mà phương thức sản xuất và tư liệu sản xuất luôn được mở rộng và cách mạng hóa; làm thế nào mà sự phân công lao động nhất thiết kéo theo sự phân công lao động kĩ hơn, việc sử dụng máy móc nhất thiết kéo theo việc dùng máy móc nhiều hơn, sự sản xuất trên quy mô lớn nhất thiết kéo theo sự sản xuất trên quy mô còn lớn hơn.

 

 Đó là cái quy luật luôn đánh bật nền sản xuất tư bản ra khỏi quỹ đạo cũ, và bắt tư bản phải tăng hơn nữa sức sản xuất của lao động, vì trước đó nó đã tăng sức sản xuất của lao động rồi; quy luật đó không cho tư bản nghỉ ngơi chút nào, và luôn thét vào tai nó: "Tiến lên! Tiến lên!".

 

 Chính quy luật đó sẽ tất yếu san bằng giá của hàng hóa cho ngang với mức chi phí sản xuất, trong khuôn khổ những biến động chu kì của thương mại.

 

 Dù nhà tư bản có dùng những phương tiện sản xuất mạnh đến thế nào, thì cạnh tranh cũng sẽ làm cho các phương tiện ấy trở thành phổ biến; và khi nó đã phổ biến, thì kết quả duy nhất của sức sản xuất cao hơn của tư bản của ông ta sẽ là: ông ta phải bán một số sản phẩm nhiều gấp 10, 20, 100 lần trước kia, với giá như cũ. Nhưng vì ông ta phải tìm một thị trường, có lẽ là 1000 lần lớn hơn, để bù lại việc hạ giá bằng cách bán nhiều hàng; vì giờ đây, việc bán được nhiều hàng hơn là cần thiết, không chỉ để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn, mà còn để bù lại chi phí sản xuất (bản thân các phương tiện sản xuất cũng ngày càng đắt lên, như ta đã thấy); và việc bán ra hàng loạt ấy không chỉ là vấn đề sống còn với ông ta, mà còn với cả các đối thủ của ông ta; nên cuộc đấu tranh xưa cũ lại nổ ra, khốc liệt hơn, vì các tư liệu sản xuất mới được phát minh có năng suất cao hơn. Thế nên sự phân công lao động và sử dụng máy móc sẽ lại diễn ra trên một quy mô vô cùng lớn hơn.

 

 Dù các phương tiện sản xuất mới được sử dụng có mạnh đến thế nào, thì cạnh tranh vẫn cố cướp khỏi tay tư bản những quả ngọt bằng vàng của sức mạnh ấy, bằng cách hạ giá của hàng hóa xuống ngang với chi phí sản xuất; cùng với việc sản xuất rẻ đi, tức là việc sản xuất được nhiều hơn với cùng một lượng lao động, thì cạnh tranh cũng làm cho việc sản xuất rẻ hơn, và bán một lượng hàng hóa nhiều hơn với giá thấp hơn, trở thành một quy luật không thể chống lại. Vậy là nhà tư bản chẳng thu được gì từ những nỗ lực của mình, trừ việc buộc phải bán một lượng sản phẩm lớn hơn trong cùng một thời gian lao động; tóm lại là những điều kiện làm tăng giá trị của tư bản của ông ta trở nên khó khăn hơn. Vì thế, trong khi cạnh tranh, bằng cái quy luật của nó về chi phí sản xuất, luôn đuổi theo nhà tư bản, và biến mọi vũ khí mà ông ta làm ra để chống lại các đối thủ thành những thứ chống lại chính ông ta; thì nhà tư bản luôn tìm cách chiến thắng cạnh tranh, bằng cách không ngừng sử dụng các máy móc mới và phân công lao động kĩ hơn; những việc đó tốn kém hơn, nhưng cho phép nhà tư bản sản xuất rẻ hơn, thay vì đợi đến khi cạnh tranh làm cho các biện pháp ấy trở nên lỗi thời.

 

 Bây giờ, nếu hình dung rằng cái tình hình sôi động ấy lan ra toàn bộ thị trường thế giới, thì ta sẽ hiểu được làm thế nào mà sự lớn lên, tích lũy và tập trung của tư bản lại kéo theo sự phân công lao động ngày càng kĩ, việc cải tiến máy móc cũ và sử dụng máy móc mới ngày càng nhiều; một quá trình diễn ra liên tục, gấp rút, sôi động, và trên một quy mô ngày càng lớn.

 

 Nhưng các điều kiện ấy, gắn liền với sự tăng tư bản sản xuất, tác động tới việc quy định tiền lương như thế nào?

 

 Sự phân công lao động mạnh hơn cho phép một công nhân có thể thực hiện công việc của 5, 10, 20 người; cạnh tranh giữa công nhân do đó mà tăng lên 5, 10, 20 lần. Công nhân cạnh tranh với nhau không chỉ bằng cách bán mình rẻ hơn người khác, mà còn bằng cách: một người làm công việc của 5, 10, 20 người; và chính sự phân công lao động, do tư bản thực hiện và thường xuyên cải tiến, đã buộc công nhân phải cạnh tranh với nhau theo cách đó.

 

 Hơn nữa, sự phân công lao động càng tăng thì lao động càng trở nên đơn giản. Sự khéo léo đặc biệt của công nhân thì mất hết giá trị. Anh ta trở thành một sức sản xuất đơn giản, đơn điệu, không có năng lực đặc biệt gì về thể chất hay trí tuệ. Lao động của anh ta trở thành việc mà ai cũng làm được, vì thế mà những kẻ cạnh tranh dồn ép anh ta từ tứ phía. Hơn nữa, hãy nhớ rằng công việc mà càng đơn giản và dễ học thì càng tốn ít chi phí sản xuất; và tiền lương càng thấp, vì cũng như giá của mọi hàng hóa khác, nó cũng được quy định bởi chi phí sản xuất.

 

 Vậy, lao động mà càng làm cho người ta ít thích thú, càng trở nên đáng tởm, thì cạnh tranh càng lớn, và tiền lương càng giảm.

 

 Công nhân tìm cách giữ vững tổng tiền lương của mình bằng việc lao động nhiều hơn: làm nhiều giờ hơn, hoặc sản xuất nhiều hơn trong cùng một giờ. Vậy là bị sự nghèo túng thúc ép, anh ta lại khiến những hậu quả tai hại của sự phân công lao động tăng lên gấp bội. Kết quả là càng làm việc nhiều thì anh ta càng nhận được ít tiền lương. Nguyên nhân đơn giản là thế này: càng làm việc nhiều thì anh ta càng cạnh tranh mạnh với các đồng nghiệp, càng buộc họ phải cạnh tranh với anh ta, và đẩy họ vào điều kiện khốn khổ như anh ta; thế nên rút cục, với tư cách một thành viên của giai cấp công nhân, anh ta cạnh tranh với chính mình.

 

 Máy móc cũng tạo ra tác động như thế, nhưng trên quy mô lớn hơn nhiều. Nó thay những công nhân khéo léo bằng những người ít khéo léo, thay đàn ông bằng đàn bà, thay người lớn bằng trẻ em; ở đâu mà máy móc mới được dùng thì nó ném hàng đống công nhân ra đường, ở đâu mà máy móc được cải tiến và có năng suất cao hơn thì nó loại trừ từng nhóm công nhân một.

 

 Ta vừa phác thảo sơ qua những nét lớn của cuộc chiến công nghiệp giữa các nhà tư bản với nhau. Cuộc chiến này có điểm đặc biệt là sự thắng thua tùy vào việc thải hồi, chứ không phải việc tuyển thêm, đạo quân công nhân. Các tướng lĩnh, tức là các nhà tư bản, ganh đua xem ai loại bỏ được nhiều quân nhân công nghiệp nhất.

 

 Thực ra, các nhà kinh tế học nói với ta là: các công nhân đã trở thành thừa do máy móc, có thể kiếm được việc làm trong các ngành mới.

 

 Họ không dám quả quyết thẳng ra rằng chính các công nhân bị sa thải sẽ có việc làm trong các ngành lao động mới. Sự thật đã lớn tiếng bác bỏ lời nói dối đó. Nói đúng ra thì họ chỉ khẳng định là công ăn việc làm mới chỉ tồn tại với các bộ phận khác của giai cấp công nhân; ví dụ, nhóm công nhân trẻ tuổi, sắp bước vào các ngành công nghiệp đang suy thoái. Dĩ nhiên, đó là niềm an ủi lớn với các công nhân thất nghiệp. Các ngài tư bản sẽ không thiếu thịt và máu tươi để bóc lột – cứ để những kẻ đã chết chôn xác chết của chúng. Điều an ủi đó dường như dành cho các nhà tư bản hơn là các công nhân của họ. Nếu toàn bộ giai cấp những người làm thuê bị máy móc tiêu diệt hết, thì thật đáng sợ cho tư bản, vì không có lao động làm thuê thì tư bản không còn là tư bản nữa!

 

Nhưng thậm chí nếu ta giả định rằng những công nhân trực tiếp bị thất nghiệp vì máy móc, và toàn bộ thế hệ trẻ đang hi vọng có việc làm trong ngành công nghiệp đó, đều tìm được công việc mới; thì liệu ta có thể tin rằng công việc mới này cũng có mức lương cao như công việc đã mất? Nếu có, thì điều đó mâu thuẫn với các quy luật kinh tế chính trị. Ta đã thấy làm thế nào mà công nghiệp hiện đại luôn có xu hướng thay thế các công việc phức tạp, cao cấp bằng các công việc đơn giản, cấp thấp hơn.

 

 Vậy thì cái khối công nhân, bị máy móc ném ra khỏi một ngành sản xuất, làm sao mà tìm được việc làm ở các ngành khác, trừ khi họ chấp nhận một mức lương thấp hơn?

 

 Một ngoại lệ của quy luật này đã được viện dẫn, cụ thể đó là các công nhân làm trong ngành sản xuất ra chính máy móc. Người ta nói rằng: vì công nghiệp đòi hỏi và tiêu thụ ngày càng nhiều máy móc, nên số máy móc tất yếu phải tăng, vì thế mà việc chế tạo máy móc tăng lên, do đó mà số công nhân trong ngành chế tạo máy tăng lên; mà công nhân ngành đó lại còn là những người lành nghề, có học thức.

 

 Kể từ năm 1840, lời khẳng định này – trước đó thì chỉ đúng một nửa – cũng chẳng còn vẻ gì là sự thật, những máy móc đa dạng nhất cũng đã được dùng trong ngành chế tạo máy, với một quy mô rộng rãi như trong ngành sản xuất sợi bông; so với những máy móc rất hoàn thiện đó, thì các công nhân trong ngành này chỉ có thể đóng vai những cái máy rất không hoàn thiện mà thôi.

 

 Nhưng thay cho một người đàn ông bị máy móc loại ra, thì công xưởng có thể đem lại việc làm cho ba trẻ em và một phụ nữ! Nhưng chẳng phải tiền lương của người đàn ông trước kia cũng đủ để nuôi ba đứa con và người vợ hay sao? Chẳng phải tiền lương tối thiểu là đủ để duy trì và tăng thêm nòi giống hay sao? Vậy thì những câu nói mà giai cấp tư sản yêu thích ấy chứng minh cái gì? Chỉ một điều: giờ đây, để nuôi sống một gia đình công nhân, thì phải có số công nhân gấp 4 lần trước kia.

 

 Hãy tóm tắt: tư bản sản xuất càng tăng thì sự phân công lao động và sử dụng máy móc càng tăng; sự phân công lao động và sử dụng máy móc càng tăng, thì cạnh tranh giữa công nhân càng tăng, và tiền lương của họ càng giảm.

 

 Hơn nữa, giai cấp công nhân cũng được bổ sung từ những tầng lớp cao hơn trong xã hội; rất nhiều người kinh doanh và người thực lợi nhỏ rơi vào hàng ngũ giai cấp vô sản, vì họ chẳng làm được gì khác ngoài việc giơ tay ra xin việc, bên cạnh những cánh tay của công nhân. Cái rừng cánh tay giơ lên xin việc ngày càng rậm rạp, còn bản thân những cánh tay ấy thì ngày càng gầy gò.

 

 Rõ ràng là các nhà công nghiệp nhỏ không tồn tại nổi, trong một cuộc đấu tranh mà điều kiện đầu tiên để thành công là sản xuất trên quy mô ngày càng lớn; nghĩa là phải làm một nhà công nghiệp lớn, chứ hoàn toàn không thể làm một nhà công nghiệp nhỏ.

 

 Khối lượng và số lượng của tư bản càng tăng thì lợi tức của nó càng giảm, thế nên người thực lợi nhỏ cũng mất khả năng sống nhờ vào lợi tức của mình; họ phải nhảy vào công nghiệp, tham gia hàng ngũ các nhà công nghiệp nhỏ, làm tăng con số những kẻ sắp gia nhập giai cấp vô sản. Những cái đó cũng không cần giải thích thêm.

 

 Cuối cùng, do tiến trình đã mô tả ở trên, các nhà tư bản càng bị buộc phải khai thác các tư liệu sản xuất khổng lồ hiện có, trên một quy mô ngày càng lớn, và do đó phải tận dụng mọi đòn bẩy tín dụng; thì những cú động đất công nghiệp càng tăng, trong đó, giới thương mại chỉ có thể tự cứu mình bằng cách đem biếu một phần tài sản, sản phẩm, thậm chí cả những sức sản xuất của chúng, cho những vị thần địa ngục; tóm lại là các cuộc khủng hoảng ngày càng tăng. Khủng hoảng ngày càng thường xuyên và dữ dội chỉ là vì: lượng sản phẩm ngày càng tăng, nhu cầu mở rộng thị trường ngày càng lớn, thì thị trường thế giới ngày càng thu hẹp, và ngày càng có ít thị trường mới để bóc lột; vì mỗi cuộc khủng hoảng trước đã kéo theo những thị trường mới, hoặc ít được khai thác, vào nền thương nghiệp thế giới.

 

Nhưng tư bản không chỉ sống trên lưng lao động. Như một tên chủ nô quý tộc và dã man, nó mang theo xác các nô lệ của mình xuống mồ; đó là hàng đoàn công nhân bị diệt vong, trong mỗi kỳ khủng hoảng.

 

 Vậy ta thấy rằng: nếu tư bản tăng nhanh thì cạnh tranh giữa công nhân lại tăng lên vô cùng nhanh hơn, tức là công ăn việc làm và tư liệu sinh hoạt của giai cấp công nhân càng giảm mạnh; thế nhưng sự tăng nhanh của tư bản lại là điều kiện thuận lợi nhất cho lao động làm thuê[2].


*Chú thích:

[1] Phần này đăng trên số báo 269, ra ngày 11 tháng Tư. Trong bài báo gốc có ghi "Köln, ngày 10 tháng Tư".

[2] Trong bài báo gốc, cuối đoạn này là chữ "còn tiếp"

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments