ABC về chủ nghĩa cộng sản (Chương X)

Chương X

CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN VÀ GIÁO DỤC

§ 76. Trường học dưới chế độ tư sản

Trong xã hội tư sản, nhà trường có ba nhiệm vụ chính cần hoàn thành. Đầu tiên, nó truyền cho thế hệ công nhân sắp tới sự tận tâm và kính trọng đối với chủ nghĩa tư bản. Thứ hai, nó tạo ra những kẻ kiểm soát ‘có văn hóa’ đối với quần chúng lao động từ những người trẻ của giai cấp thống trị. Thứ ba, nó hỗ trợ cho việc áp dụng khoa học – kỹ thuật vào nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, qua đó làm tăng lợi nhuận cho nhà tư bản.

Nhiệm vụ đầu tiên cũng giống như việc khắc sâu ‘tinh thần đúng đắn’ trong quân đội tư sản. Trong các trường học dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, có hẳn một ‘đẳng cấp sĩ quan’ làm nhiệm vụ khai sáng quần chúng, truyền cảm hứng cho họ. Các giáo viên ở các trường tiểu học được một khóa đào tạo đặc biệt để họ chuẩn bị cho vai trò người thuần hóa thú dữ. Chỉ những người đã tiếp thu triệt để quan điểm tư sản mới có thể vào trường với tư cách là giáo viên. Các bộ giáo dục trong chế độ tư bản chủ nghĩa luôn theo dõi, và họ thanh trừng tàn nhẫn nghề dạy học của tất cả những thành phần nguy hiểm (theo nghĩa xã hội chủ nghĩa). Các trường tiểu học công lập của Đức trước cuộc cách mạng có vai trò như một cánh tay kéo dài cho doanh trại của William II, và chúng đóng vai trò làm những tấm gương sáng về cách mà giai cấp quý tộc địa chủ và giai cấp tư sản có thể sử dụng trường học để đào tạo những nô lệ trung thành và mù quáng của tư bản. Trong các trường tiểu học của chế độ tư bản chủ nghĩa, việc giảng dạy được đưa ra theo một chương trình cố định được điều chỉnh một cách hoàn hảo để học sinh bước vào hệ thống tư bản. Tất cả các sách văn bản được viết trên một tinh thần thích hợp. Toàn bộ văn học tư sản cũng có cùng một mục đích, vì nó được viết bởi những người coi trật tự xã hội tư sản là tự nhiên, có thể tồn tại được và là điều tốt nhất cho họ. Bằng cách này, hệ tư tưởng tư sản bị nhồi nhét vào đầu các học giả một cách dễ dàng; họ bị tiêm nhiễm sự nhiệt tình đối với mọi đức tính tư sản; họ được truyền cảm hứng với lòng quý trọng đối với sự giàu có, nổi tiếng, danh hiệu và trật tự; họ khao khát được vươn lên trên thế giới, họ khao khát sự thoải mái cá nhân, v.v. Công việc của các nhà giáo dục tư sản được hoàn thành bởi những thành viên của nhà thờ với sự những lời răn của họ. Nhờ những mối liên hệ mật thiết giữa tư bản và nhà thờ, luật của Đức Chúa Trời luôn được chứng minh là luật của các giai cấp sở hữu.

Trong xã hội tư bản, mục tiêu hàng đầu thứ hai của giáo dục tư sản được bảo đảm bằng cách giáo dục trung học và đại học cho quần chúng lao động một cách cẩn thận. Việc giảng dạy ở các trường trung học cơ sở, và vẫn còn ở các trường trung học phổ thông là vô cùng tốn kém, vượt quá khả năng tài chính của người lao động. Quá trình giảng dạy, ở giáo dục trung học cơ sở và cao hơn, kéo dài từ mười năm trở lên. Vì lý do này, công nhân và nông dân không thể tiếp cận được chúng, vì để nuôi sống gia đình của họ, họ buộc phải gửi con cái của họ từ rất sớm đến công việc nhà máy hoặc công việc đồng áng, hoặc nếu không thì phải bắt trẻ làm việc ở nhà. Trong thực tế, các trường trung và cao hơn là nơi bảo tồn của tuổi trẻ tư sản. Trong đó, những thành viên trẻ hơn của các giai cấp thống trị được đào tạo để nối nghiệp cha họ trong sự nghiệp bóc lột, hoặc đảm nhiệm các chức vụ chính thức và kỹ thuật của Nhà nước tư bản. Tương tự như vậy, ở những trường này, sự hướng dẫn chắc chắn có tính chất giai cấp. Trong các lĩnh vực toán học, kỹ thuật công nghiệp và khoa học tự nhiên, điều này có thể ít nổi bật hơn; nhưng tính chất giai cấp của việc giảng dạy là dễ thấy trong trường hợp của khoa học xã hội, theo đó cái nhìn của học sinh về thế giới được hình thành trong thực tế. Kinh tế chính trị tư sản được khắc sâu bằng tất cả những phương pháp hoàn thiện nhất để ‘tiêu diệt Marx’. Tương tự như vậy, xã hội học và lịch sử được dạy từ một cái nhìn tư bản chủ nghĩa. Lịch sử luật học kết thúc bằng việc coi luật học tư sản là quyền tự nhiên của ‘con người và công dân’, v.v. để duy trì xã hội tư sản và toàn bộ hệ thống bóc lột tư bản chủ nghĩa. Nếu bất kỳ con cái nào trong số những người con của công nhân có năng khiếu đặc biệt muốn tìm đường vào các trường cao hơn, thì trong phần lớn các trường hợp, bộ máy học thuật tư sản sẽ phục vụ như một phương tiện tách họ ra khỏi thân nhân giai cấp và ý chí của họ, gieo rắc hệ tư tưởng tư sản vào đầu họ, để về lâu dài, thiên tài của giai cấp công nhân này sẽ bị biến thành nguyên nhân cho sự áp bức công nhân.

Cuối cùng, chuyển sang nhiệm vụ thứ ba của nền giáo dục tư bản, chúng tôi thấy rằng nhà trường đã hoàn thành nó như sau. Trong một xã hội có giai cấp mà chủ nghĩa tư bản thống trị, khoa học tách rời khỏi lao động. Nó không chỉ trở thành tài sản của các tầng lớp sở hữu. Hơn thế nữa, nó trở thành nghề của một nhóm cá nhân nhỏ và tương đối hẹp. Hướng dẫn khoa học và nghiên cứu khoa học được tách ra khỏi quá trình lao động. Để có thể tận dụng các dữ liệu của khoa học và áp dụng chúng trong sản xuất, xã hội tư sản phải tạo ra một số thể chế phục vụ cho việc áp dụng các khám phá khoa học vào kỹ thuật sản xuất; và nó phải tạo ra một số trường kỹ thuật tạo điều kiện thuận lợi cho việc duy trì sản xuất ở trình độ có thể đạt được nhờ tiến bộ của khoa học ‘thuần túy’ – theo đó khoa học có nghĩa là khoa học tách rời khỏi lao động. Hơn nữa, các trường bách khoa của xã hội tư bản không chỉ đơn thuần là cung cấp cho xã hội tư bản những chuyên gia kỹ thuật; họ cung cấp thêm những người sẽ đóng vai trò là nhà quản lý, những người sẽ đóng vai trò là ‘người đứng đầu ngành công nghiệp’. Ngoài ra, để cung cấp nhân sự giám sát việc lưu thông hàng hóa, họ sẽ thành lập nhiều trường thương mại và học viện.

Trong tất cả các tổ chức này, bất cứ điều gì được liên kết với sản xuất sẽ tồn tại lâu dài. Nhưng bất cứ thứ gì liên quan tới sản xuất tư bản chủ nghĩa thì sẽ chết dần. Những thứ thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học sẽ tồn tại; những thứ tách rời khoa học khỏi lao động sẽ diệt vong. Các phương pháp hướng dẫn kỹ thuật sẽ được giữ nguyên – nhưng việc tách riêng các phương pháp kỹ thuật ra khỏi việc thực hiện lao động thể chất sẽ bị bãi bỏ. việc sử dụng khoa học để sản xuất sẽ được bảo tồn và mở rộng hơn nữa. Mặt khác, bất kỳ cản trở nào đối với việc sử dụng khoa học như vậy, trong chừng mực vốn có xu hướng chỉ sử dụng khoa học ở mức độ mà tại bất kỳ thời điểm nào khoa học có xu hướng tăng lợi nhuận, đều sẽ bị loại bỏ.

§ 77. Chủ nghĩa cộng sản và những nhiệm vụ phá huỷ

Trong vấn đề giáo dục, cũng như mọi vấn đề khác, Đảng Cộng sản không chỉ đơn thuần phải đối mặt với những nhiệm vụ mang tính xây dựng, vì trong giai đoạn mở đầu của hoạt động, Đảng Cộng sản cũng phải đối mặt với những nhiệm vụ phá hủy. Trong hệ thống giáo dục được kế thừa từ xã hội tư bản, nó phải nhanh chóng phá hủy mọi yếu tố đã biến trường học trở thành công cụ giai cấp tư bản thống trị.

Trong xã hội tư bản, học lên cao là độc quyền của giai cấp những kẻ bóc lột. Những trường học như vậy, bao gồm trường cổ điển, trường đại học hiện đại, học viện, đoàn thiếu sinh quân, v.v., phải bị phá hủy.

Đội ngũ giảng viên của các trường tư sản phục vụ cho mục đích của văn hóa tư sản và sự lừa bịp. Chúng ta phải thẳng tay đuổi khỏi trường học vô sản tất cả những giáo viên của các trường học cũ, những người không thể và không được phép trở thành công cụ hỗ trợ cho sự giác ngộ chủ nghĩa cộng sản của quần chúng.

Trong các trường học của nền giáo dục cũ, giáo viên tham gia vào việc truyền dạy tinh thần tư sản cho học sinh; trong các trường học này, các phương pháp giảng dạy đã được thực hành nhằm phục vụ lợi ích giai cấp của giai cấp tư sản. Trong các trường học mới của chúng ta, chúng ta phải quét sạch tất cả những thứ như vậy.

Hệ thống trường cũ gắn bó mật thiết với tôn giáo, thông qua việc bắt buộc giảng dạy tôn giáo, bắt buộc tham gia các buổi cầu nguyện và bắt buộc đi nhà thờ. Trường học mới buộc phải trục xuất tôn giáo ra khỏi các bức tường của nó, dưới bất cứ hình thức cải trang nào nó dùng để thâm nhập, và dưới bất kỳ hình thức đã được pha loãng nào mà các nhóm phụ huynh phản động có thể muốn kéo nó trở lại.

Trường đại học cũ đã tạo ra một đoàn thể các giáo sư, hội giáo viên chặt chẽ. Điều này đã ngăn cản việc đưa sức mạnh giảng dạy mới vào trường đại học. Đoàn thể của các giáo sư tư sản phải bị giải thể, và các ghế giáo sư phải được giao cho tất cả các giảng viên có năng lực.

Dưới thời Sa hoàng, tiếng Nga là ngôn ngữ duy nhất được phép sử dụng trong công vụ Nhà nước và trong trường học; những người không phải là người Nga dưới sự cai trị của sa hoàng không được phép dạy bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Trong các trường học mới, mọi dấu vết của sự áp bức dân tộc đều biến mất khỏi phạm vi giảng dạy, vì những người thuộc mọi dân tộc đều có quyền được giáo dục bằng tiếng mẹ đẻ.

§ 78. Nhà trường như một công cụ giáo dục và khai sáng tư tưởng cộng sản 

Giai cấp tư sản bao gồm một phần rất nhỏ dân số. Tuy nhiên, điều này không ngăn cản nó bổ sung các công cụ áp bức giai cấp khác bằng cách sử dụng nhà trường để giáo dục và chia rẽ hàng triệu công nhân, gieo mầm cho họ hệ tư tưởng tư sản. Theo cách này, phần lớn dân số bị ràng buộc phải chấp nhận cách nhìn và đạo đức của một phần nhỏ không đáng kể về mặt số lượng.

Ở các nước tư bản, giai cấp vô sản và bán vô sản chiếm đa số dân chúng. Ở Nga, những người lao động thành thị, tuy là thiểu số nhưng trong các vấn đề chính trị đã trở thành những người lãnh đạo và tổ chức cuộc đấu tranh thay mặt cho tất cả những công nhân. Do đó, giai cấp vô sản thành thị, khi đã nắm chính quyền, nên sử dụng quyền lực chủ yếu cho mục đích này, để có thể nâng tất cả các tầng lớp dân cư lạc hậu lên trình độ cần thiết của ý thức cộng sản. Giai cấp tư sản sử dụng trường học để nô dịch tất cả những ai sống bằng lao động. Giai cấp vô sản sẽ dùng chính trường học để chiếm đoạt, quét sạch những dấu vết cuối cùng của chế độ nô lệ tinh thần khỏi ý thức của người lao động. Thông qua trường học, giai cấp tư sản có thể áp đặt cho những đứa trẻ vô sản một tâm lý tư sản. Nhiệm vụ của các trường học cộng sản mới là áp đặt cho tư sản và trẻ em tiểu tư sản một tâm lý vô sản. Trong lĩnh vực tinh thần, tâm lý, trường học cộng sản phải thực hiện một cuộc cách mạng tương tự để lật đổ xã ​​hội tư sản, một cuộc trưng thu tương tự mà Quyền lực Xô Viết đã thực hiện trong lĩnh vực kinh tế – quốc hữu hóa tư liệu sản xuất. Đầu óc con người phải sẵn sàng cho những mối quan hệ xã hội mới. Nếu quần chúng cảm thấy khó khăn trong việc xây dựng một xã hội cộng sản, thì điều này là do trong nhiều bộ phận của đời sống tinh thần, họ vẫn còn vững cả hai chân trên mảnh đất của xã hội tư sản; bởi vì họ vẫn chưa giải phóng mình khỏi những định kiến ​​tư sản. Do đó, một phần nhiệm vụ của trường học mới là phải điều chỉnh tâm lý của người lớn với những điều kiện xã hội đã thay đổi. Tuy nhiên, hơn thế nữa, nhiệm vụ của trường học mới là phải đào tạo ra một thế hệ trẻ mà toàn bộ hệ tư tưởng sẽ ăn sâu vào nền đất của xã hội cộng sản mới.

Mục tiêu này phải được thúc đẩy bởi tất cả các cải cách giáo dục của chúng ta, một số trong số đó đã được khởi động, trong khi những cải cách khác vẫn đang chờ đi vào hiệu lực.

§79. Chuẩn bị cho trường lớp

Trong xã hội tư sản, trẻ em gần như được coi là tài sản của cha mẹ (dù tất nhiên không hoàn toàn đến mức đó). Khi cha mẹ gọi con mình là “con gái (của) tôi”, “con trai tôi”, thì cách gọi như vậy không đơn thuần chỉ xuất mối quan hệ cha mẹ – con cái, mà còn cho thấy cái nhìn của cha mẹ đối với con cái khi tự cho mình quyền được dạy dỗ con mình. Nhưng từ góc độ của CNXH thì những quyền như vậy là không tồn tại; con người cá nhân không đơn thuần chỉ là anh ta, chỉ thuộc về chính anh ta mà còn thuộc về xã hội, thuộc về loài người. Một cá nhân chỉ có thể tồn tại và phát triển thông qua xã hội mà cá nhân đó đang sống trong nó. Trẻ em, vì lẽ đó, thuộc về xã hội mà chúng đang sống và nhờ xã hội đó mà được sinh ra, mà xã hội này là một thứ gì đó rộng lớn hơn “xã hội” mà cha mẹ chúng tạo ra. Tương ứng, ta thấy xã hội cũng có quyền cơ bản được giáo dục trẻ em; với cách nhìn như vậy, thì việc cha mẹ tự cho mình quyền được nuôi dạy con cái mình và hướng tâm tư, tình cảm của chúng theo những giới hạn mà mình ràng buộc sẽ không những bị phủ nhận mà còn được xem là ngớ ngẩn. Toàn xã hội có thể tín thác việc nuôi dạy con cái cho cha mẹ, nhưng cũng có thể sẽ không làm như vậy; có khá nhiều lý do khiến cho xã hội cảm thấy cần phải từ bỏ việc giao phó công cuộc nuôi dạy trẻ em cho cha mẹ, khi mà công cuộc giáo dục trẻ em thường ít được lưu tâm hơn sinh nở. Chúng ta sẽ tìm ra trong hàng trăm bà mẹ khác nhau những người có khả năng nuôi dạy con trẻ tốt nhất, và hướng tới giáo dục trẻ em theo quy mô cộng đồng trong tương lai. Việc giáo dục như vậy sẽ giúp cho xã hội XHCN ươm mầm thế hệ mới thành công nhất có thể, với ít chi phí và sự tiêu hao năng lượng (thì giờ, tiền bạc chăm sóc…) nhất.

Vì thế, công việc giáo dục trẻ em bởi toàn xã hội phải được xem xét từ nhiều khía cạnh ngoài khía cạnh sư phạm. Phương pháp giáo dục như vậy mang lại lợi ích kinh tế rất lớn; hàng ngàn, hàng triệu bà mẹ sẽ được tự do để dành thời gian cho lao động sản xuất và trau dồi bản thân. Họ sẽ được giải thoát của chuỗi việc nhà bất tận cùng những công việc lặt vặt đi liền với nuôi dạy con cái khi phải ở nhà.

Đấy là lý do tại sao chính quyền Xô-viết đang đẩy mạnh thành lập các cơ chế nhằm phát triển giáo dục cộng đồng, cũng như tiến tới nhân rộng mô hình từng bước trên quy mô cả nước. Với cơ chế trên, ta sẽ mở cửa các nhà trẻ để công nhân, nhân viên văn phòng, v.v có thể gửi con em mình và giao chúng cho những thầy cô có chuyên môn để chuẩn bị cho trẻ em bắt đầu cuộc sống trường lớp; các nhà trẻ nói trên cũng bao gồm cả những nhà trẻ nội trú nữa. Và chúng ta cũng sẽ xây dựng các khu nhà dành riêng cho trẻ em, mà tại đó trẻ em có thể sống đến khi lớn hoặc là sống trong một khoảng thời gian dài xa gia đình. Ngoài ra ta cũng có những nhà trẻ dành cho trẻ nhỏ dưới bốn tuổi mà tại đó chúng được chăm sóc trong khi cha mẹ đi làm việc.

Đảng Cộng sản, vì vậy, cần một mặt đảm bảo chắc chắn thông qua sự trợ giúp của các cơ quan hữu quan, giúp cho trẻ em sẵn sàng với việc học tập trên trường lớp, cũng như đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở này. Mặt khác, qua sự tuyên truyền, phổ biến tới phụ huynh, Đảng cũng cần vượt qua mọi thành kiến mang tính chất tư sản và tiểu tư sản về sự cần thiết hay ưu việt của giáo dục tại gia (chỉ bởi cha mẹ) cho trẻ em. Những tuyên truyền lý luận như vậy phải được củng cố và chứng minh trong thực tiễn bằng các cơ sở giáo dục điển hình tiên tiến nhất của chính quyền Xô-viết. Tuy vậy, nhiều khi các bậc cha mẹ thường chần chừ trong việc gửi trẻ vào các cơ sở giáo dục trên do điều kiện vật chất, dạy học của các nhà trẻ, trường học, v.v. Nhiệm vụ của Đảng và đặc biệt là cả các tổ chức phụ nữ trong vấn đề đó là phải thuyết phục phụ huynh cùng cố gắng phát triển một nền giáo dục cộng đồng mới, không phải bằng cách tách mình ra khỏi nó, mà bằng cách gửi con em mình vào trường lớp phù hợp ngay từ bây giờ và quản lý, nuôi dạy con em thông qua hội phụ huynh trong trường.

§ 80. Thống nhất trường học lao động

Các cơ sở giáo dục dự bị là dành cho trẻ dưới bảy tuổi. Qua độ tuổi đó, việc giáo dục và đào tạo phải được thực hiện ở trường học chứ không phải ở nhà. Giáo dục phải là bắt buộc, điều này đánh dấu một bước tiến lớn so với thời Nga hoàng. Nó phải là miễn phí, và điều này cũng đánh dấu một bước tiến lớn, vì ngay cả ở những vùng đất tư sản tiến bộ nhất chỉ có giáo dục tiểu học mới được miễn phí. Vì nay những đặc quyền về giáo dục và văn hóa cho các nhóm dân cư đặc biệt đã bị bãi bỏ, giáo dục một cách tự nhiên được mở ra cho tất cả mọi người. Giáo dục phổ cập, bình đẳng và bắt buộc được cung cấp cho tất cả trẻ em từ bảy đến mười bảy tuổi.

Trường học phải được thống nhất. Trước hết, điều này có nghĩa là phải xóa bỏ sự phân biệt giới tính trong nhà trường, học sinh nam và nữ phải được giáo dục cùng nhau, phải có sự đồng giáo dục. Sự thống nhất tiếp tục biểu thị ở việc bãi bỏ sự phân loại các trường thành trường tiểu học, trung học cơ sở và phổ thông trung học, mà giữa chúng không có mối liên hệ nào với nhau, hoạt động theo các chương trình hoàn toàn độc lập với nhau. Điều này ngụ ý rằng không được phân chia các trường tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông thành các trường thường và các trường chuyên hay kỹ thuật, hoặc thành các trường phổ thông và các trường dành cho những tầng lớp dân cư đặc biệt. Sự thống nhất về trường học mang tới một hệ thống giáo dục duy nhất, mà qua đó mọi người đi học trong nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa đều có khả năng và cần phải vượt qua. Các bé trai và bé gái sẽ bắt đầu học mẫu giáo, và sẽ cùng nhau vượt qua tất cả các giai đoạn để đạt đến tầng cao nhất. Điều này sẽ quyết định giáo dục bắt buộc nói chung cũng như giáo dục kỹ thuật nói riêng như là một sự bắt buộc đối với mọi học sinh.

Độc giả của chúng ta sẽ thấy rõ rằng thống nhất trường học không đơn thuần là lý tưởng của mọi nhà giáo dục tiên tiến, mà còn là kiểu trường duy nhất có thể có trong một xã hội xã hội chủ nghĩa, nghĩa là trong một xã hội không còn giai cấp hoặc đang phấn đấu để xóa bỏ giai cấp. Chỉ riêng chủ nghĩa xã hội mới có thể hiện thực hóa lý tưởng về sự thống nhất trường học, dẫu rằng một số nhất định các nhà giáo dục tư sản đã có nguyện vọng hướng tới nó.

Trường học của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa phải là trường học lao động. Điều này có nghĩa là việc dạy dỗ và đào tạo phải gắn liền với lao động và dựa trên lao động. Vấn đề này là quan trọng vì nhiều lý do. Trước hết là bởi vì nó đặt cơ sở cho việc dạy dỗ thành công. Một đứa trẻ tiếp thu dễ dàng hơn, sẵn sàng hơn và kỹ càng hơn những gì nó học được, không phải từ sách vở hay từ lời nói của giáo viên, mà là từ kinh nghiệm cá nhân về những gì nó đang làm bằng chính đôi tay của mình. Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được môi trường tự nhiên xung quanh mình hơn khi chúng ta làm việc với thiên nhiên trong nỗ lực để sửa đổi nó. Sự thống nhất giữa giáo dục với lao động đã bắt đầu trong các trường tư sản tiến bộ nhất. Tuy nhiên, không thể thực hiện điều đó một cách triệt để trong hệ thống tư sản, trong đó các yếu tố ký sinh được cố tình nuôi dưỡng, và lao động thể chất bị ngăn cách với lao động trí óc bởi một hố sâu không thể vượt qua.

Lao động là cần thiết, không chỉ cho sự phát triển thể chất lành mạnh của trẻ em, mà còn cho sự phát triển đúng đắn về mọi mặt của trẻ. Kinh nghiệm cho thấy rằng thời gian trẻ dành ở trường để làm những công việc thực tế, không những không làm cản trở sự tiến bộ trong tất cả các loại hiểu biết về lý thuyết, mà còn góp phần rất lớn vào sự tiến bộ của trẻ trong lĩnh vực lý thuyết.

Cuối cùng, đối với xã hội cộng sản thì trường học lao động là hoàn toàn không thể thiếu. Mỗi công dân trong một xã hội như vậy phải được làm quen với phần nào của tất cả các nghề nghiệp, ít nhất là vậy. Trong xã hội cộng sản sẽ không có các tập đoàn khép kín, không có các nghiệp đoàn rập khuôn, không có các nhóm chuyên gia cứng nhắc. Con người lỗi lạc nhất trong khoa học cũng phải có kỹ năng lao động chân tay. Với người học trò sắp rời trường học lao động thống nhất, xã hội cộng sản sẽ nói với họ: ‘Trở thành giáo sư, bạn có thể hoặc không; nhưng cho dù có thế nào bạn cũng phải tạo ra các giá trị.’ Các hoạt động đầu tiên của trẻ là dưới hình thức vui chơi; vui chơi dần dần chuyển thành công việc qua một quá trình chuyển đổi không thể nhận thấy, để đứa trẻ học ngay từ đầu cách nhìn nhận lao động, không phải như một sự ép buộc khó chịu hoặc như một hình phạt, mà như là một sự bộc lộ khả năng lao động một cách tự nhiên và tự phát. Lao động phải là một nhu cầu, giống như nhu cầu về thức ăn và đồ uống; nhu cầu này phải được thấm nhuần và phát triển trong nhà trường cộng sản.

Trong xã hội cộng sản chủ nghĩa, với tiến bộ kỹ thuật mạnh mẽ của nó, thì chắc chắn sẽ có sự chuyển dịch lớn và nhanh chóng sức lao động từ bộ phận này sang bộ phận khác. Ví dụ, một khám phá trong ngành dệt hoặc kéo sợi có thể làm giảm nhu cầu về thợ dệt và thợ kéo sợi, đồng thời có thể tăng số lượng công nhân cần thiết cho việc trồng bông. Trong những trường hợp như vậy, việc phân phối lại nguồn lực và nghề nghiệp sẽ là điều cần thiết, và nó chỉ có thể được thực hiện thành công nếu mọi công nhân trong xã hội cộng sản đều thành thạo một số nghề nhất định. Xã hội tư sản phải đối mặt với những khó khăn này bằng đội quân dự bị công nghiệp, một số lượng những người thất nghiệp, ít hoặc nhiều. Trong xã hội cộng sản sẽ không có đội quân thất nghiệp. Dự trữ công nhân cần thiết cho bất kỳ ngành sản xuất nào đó bộc lộ qua tình trạng thiếu hụt sức lao động, sẽ được cấu thành bởi khả năng lấp đầy chỗ trống của công nhân trong các ngành sản xuất khác. Trường học lao động thống nhất, và không gì khác, có thể đào tạo ra những người lao động có thể thực hiện những chức năng đa dạng nhất của xã hội cộng sản chủ nghĩa.

§ 81. Giáo dục chuyên sâu

Cho tới trước tuổi 17, tất cả thanh thiếu niên của nước cộng hoà đều phải tham gia vào những trường học lao động thống nhất [1], nơi họ sẽ tiếp thu những kiến thức, cả lý luận và thực tiễn, những điều không thể thiếu đối với mỗi công dân trong xã hội cộng sản. Nhưng việc học sẽ không dừng lại ở đó. Bên cạnh kiến thức chung còn có kiến thức chuyên môn. Biển kiến thức là vô cùng lớn mà chẳng cá nhân nào có thể một mình lĩnh hội được hết. Sự thống nhất về giáo dục trong trường học lao động thống nhất không có nghĩa là loại trừ sự đào tạo chuyên sâu.

Mục đích của chúng ta chỉ là trì hoãn việc đào tạo chuyên sâu cho tới thời điểm chín muồi. Ở giai đoạn học tập sau của trường học lao động thống nhất, các học sinh trong độ tuổi từ 14 đến 17 sẽ biểu hiện xu hướng nghề nghiệp của mình trong tương lai. Nó không chỉ là có thể; mà còn là cần thiết, để mang tới đầu ra cho những bản năng tự nhiên mà có sự gắn bó mật thiết với một lĩnh vực khoa học nhất định. Nhưng tất nhiên, điều này không được làm phương hại đến chương trình giáo dục phổ thông của trường học lao động.

Tuy vậy, việc đào tạo chuyên sâu không nên bắt đầu trước tuổi mười bảy. Có nhiều lý do cho việc giới hạn độ tuổi. Cho tới tuổi mười bảy, các học sinh vẫn là học trò hơn là người lao động. Mục đích cơ bản của quá trình học tập trong trường học không phải là tạo ra giá trị và đóng góp vào ngân sách Nhà nước, mà là truyền tải sự giáo dục. Sau mười bảy tuổi, anh học trò trở thành công nhân, anh ta phải thực hiện hạn ngạch lao động của mình, phải đóng vai trò xứng đáng của mình trong việc sản xuất hàng hóa cho cộng đồng nhân loại. Anh ta chỉ có thể nhận được sự hướng dẫn của chuyên gia cho tới khi anh ta lần đầu tiên hoàn thành nghĩa vụ cơ bản của mình đối với xã hội.

Vì lý do này, và quả đúng vậy, đào tạo chuyên sâu cho thanh niên sau tuổi mười bảy chỉ có thể được cung cấp ngoài giờ làm việc. Với sự tiến bộ của kỹ thuật sản xuất, chúng ta có thể mong đợi một ngày làm việc rút xuống dưới 8 tiếng, và cũng nhờ vậy mà mỗi thành viên của xã hội cộng sản sẽ có nhiều thời gian hơn cho việc đào tạo chuyên sâu. Trong một số trường hợp nhất đinh, khi có những cá nhân có những tài năng đặc biệt, có thể cung cấp một ngoại lệ dưới hình thức miễn lao động trong một vài năm nhất định, để tạo cơ hội cho việc học tập nghiên cứu.  Nếu việc miễn lao động hoàn toàn không phù hợp với lợi ích xã hội, thì có thể giảm giờ làm cho những cá nhân đó.

*Chú thích:

[1] Trường học lao động thống nhất: Một hệ thống giáo dục công lập, miễn phí và bắt buộc, bao gồm 2 cấp học. Được hình thành sau khi cách mạng thành công.

§ 82. Giáo dục đại học

Ở thời điểm này, vẫn chưa thể dự đoán chính xác được trường đại học chuyên sâu dưới chế độ cộng sản sẽ có đặc điểm gì. Có thể sẽ có những hình thức khác nhau. Có những nơi sẽ là các khóa học ngắn hạn. Sẽ có trường bách khoa và phòng thí nghiệm, nơi sẽ có hướng dẫn và đồng thời cũng tiến hành nghiên cứu thử nghiệm; nhưng trong đó, tất cả sự ngăn cách giữa giáo viên và sinh viên sẽ không còn nữa. Nhưng ngay cả giờ thì chúng ta có thể hoàn toàn chắc chắn rằng, những trường đại học ở dạng hiện tại, với đội ngũ chuyên môn hiện tại của họ, đã không còn thực sự hữu ích nữa.

Họ vẫn tuân theo những giáo trình được cung cấp trong trường học tư sản kiểu cũ. Trong lúc này, các trường đại học này có thể được cải tổ bằng cách loại bỏ đội ngũ giảng viên cũ và bổ sung những người tuy chưa đạt đến tiêu chuẩn của “những chuyên gia uyên bác của xã hội tư sản”, nhưng hoàn toàn đủ năng lực để thực hiện một cuộc cách mạng trong công tác giảng dạy khoa học xã hội, có khả năng loại bỏ hoàn toàn văn hoá tư sản ra khỏi nơi trú ẩn cuối cùng của nó.

Thêm vào đó, thành phần sinh viên cũng sẽ thay đổi, hầu hết họ là công nhân và nhờ vậy, nghiên cứu, giảng dạy và thành tựu khoa học kĩ thuật sẽ thuộc về sở hữu của giai cấp công nhân. Nhưng sự tham gia của người lao động vào giảng đường đại học nhất thiết sẽ cần đến sự hỗ trợ của ngân sách Nhà nước, từ chi phí sinh hoạt đến học tập. Tất cả sẽ đều được xem xét trong chương trình giáo dục của Đảng.

§ 83. Các trường học Soviet và trường đảng

Trong thời kỳ mà Kerensky còn nắm quyền, bộ máy trường học thời Sa hoàng trên thực tế vẫn được giữ nguyên. Khi nắm được quyền lực, Đảng Cộng sản bắt buộc phải phá hủy hoàn toàn bộ máy này. Trên đống đổ nát của trường học cũ, những người cộng sản bắt đầu xây dựng các trường học lao động thống nhất, chúng như là phôi thai cho các trường học lao động bình thường của xã hội cộng sản. Họ đang cố gắng xóa bỏ khỏi các trường đại học tư sản tất cả mọi thứ vốn được sử dụng để thúc đẩy sự thống trị của tư bản. Những kiến thức đã được tích lũy trong thời kỳ mà giai cấp thống trị còn nắm quyền, được cung cấp cho tất cả công nhân. Và do vậy mà việc xây dựng loại hình đại học bình thường cho xã hội cộng sản đã bắt đầu.

Nhưng trong số các môn khoa học được biết đến từ nền văn hóa tư sản, không có môn khoa học nào cung cấp cách thức để đạt được cách mạng vô sản. Trong số tất cả các trường học mà giai cấp tư sản đã thành lập mà từ đó xã hội cộng sản bắt đầu tái thiết, không có trường nào dạy cách xây dựng Nhà nước vô sản. Thời kỳ quá độ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản đã khai sinh ra một loại hình trường học đặc biệt, nhằm phục vụ cho cuộc cách mạng đang diễn ra và hỗ trợ cho việc xây dựng hệ thống Soviet. Đó là mục đích của các trường đảng và trường học Soviet phát triển dưới sự quan sát của chúng tôi, đó là để cung cấp các khóa hướng dẫn ngắn hạn và không thường xuyên, và giờ đây đang được chuyển thành các cơ sở đào tạo những người hoạt động trong đảng và trong Xô viết về lâu dài. Sự biến chuyển đó là không thể tránh khỏi. Việc xây dựng một Nhà nước Xô Viết là một công việc hoàn toàn mới. Chưa có tiền lệ nào trong lịch sử cho điều này. Công việc của các cơ quan Xô Viết phát triển và hoàn thiện từng ngày; điều cần thiết để thành công là mọi công nhân trong Xô Viết phải tận dụng tất cả kinh nghiệm của những người đi trước. Việc tự giáo dục trong công việc hành chính, việc này có thể được thực hiện bởi tất cả những người lao động trong các Xô viết, dường như là không đủ. Kinh nghiệm này phải được thu thập, hệ thống hóa, được xây dựng và cung cấp cho tất cả những người lao động đang tham gia vào việc xây dựng nhà nước Xô Viết, để mỗi người tiếp sức vào việc quản trị để tránh phạm phải những sai lầm của các bậc tiền bối; để những người mới đến có thể học hỏi, không phải từ những sai lầm của chính họ, mà từ những sai lầm của những người khác, mà Nhà nước đã phải trả giá cho sai lầm đó. Bây giờ các trường công tác của Xô Viết cũng phải phục vụ mục đích này, và ở Cộng hòa Xô Viết chúng tôi đã có một trường trung tâm về công tác của Xô Viết trong Ban Chấp hành Trung ương toàn Nga, đây là một trường thường trực. Không bao lâu nữa, các trường đào tạo công việc tương tự của Xô Viết sẽ sớm được thành lập ở thủ phủ của tất cả các tỉnh.

Bây giờ xem xét các trường đảng, chúng tôi thấy rằng họ đã trải qua một sự thay đổi căn bản về tính chất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Lúc đầu họ là trường của một đảng nhất định, được giai cấp vô sản ủng hộ, và trong giai đoạn này họ có tính chất chính trị thuần túy. Giờ đây, họ đã trở thành những nơi đưa ra chỉ dẫn trong quá trình chuyển đổi xã hội theo hướng chủ nghĩa cộng sản, và do đó họ là trường học của Nhà nước. Đồng thời họ còn là học viện quân sự phục vụ cho cuộc nội chiến. Chính nhờ những trường học này mà giai cấp vô sản mới có thể hình thành ý tưởng về ý nghĩa khách quan của sự quá độ mà chính nó đã trải qua một nửa quá trình, gần như theo bản năng, có một mục tiêu cụ thể hẹp hơn, và – vì nó nhận ra rằng họ không đủ năng lực để nắm được bản chất của toàn bộ quá trình cách mạng. Các trường đảng không chỉ có khả năng giải thích khoa học cho giai cấp vô sản về bản chất và mục tiêu của cách mạng, mà còn có thể dạy cho công nhân cách đạt được mục tiêu của cách mạng bằng con đường ngắn nhất và tốn ít công sức nhất.

§ 84. Một hướng dẫn cho việc nâng cao học thuật

Dưới thời Sa hoàng, đại đa số quần chúng lao động bị cố tình giam hãm trong tình trạng dốt nát và mù chữ suốt đời. Di sản mà nó để lại cho chính quyền Xô Viết là một tỷ lệ rất lớn người dân mù chữ, và như lẽ tự nhiên cần phải áp dụng các biện pháp phi thường để thoát khỏi di sản này. Các sở giáo dục công cộng đã mở ra các trường học dành cho những người lớn còn chưa biết đọc và viết, cùng với đó là một số bước bổ sung nhằm chấm dứt nạn mù chữ. Nhưng không chỉ bộ máy học thuật của Dân uỷ Giáo dục, mà quần chúng cũng phải được tranh thủ bởi Đảng Cộng sản cho nỗ lực xóa nạn mù chữ. Ở đây, các Xô viết cho văn hóa đại chúng, được bầu chọn từ tất cả những công nhân và nông dân quan tâm đến vấn đề giáo dục, phải đóng vai trò của họ. Một cách thức khác là việc huy động tất cả những người có thể đọc và viết để được hướng dẫn cho những người mù chữ. Trên nhiều vùng đất của nước Cộng hoà, một cuộc vận động như vậy đang bắt đầu và công việc của đảng là phải đảm bảo sao cho chúng sẽ được tiến hành ở mọi nơi theo một kế hoạch rõ ràng.

Ngoài việc tiến hành cuộc đấu tranh chống nạn mù chữ, chính quyền Xô Viết còn phải dành nhiều sức lực và phương tiện vật chất để hỗ trợ cho các nỗ lực tự phát về văn hóa của quần chúng, đặc biệt là của những người trưởng thành. Nhiều thư viện đã được khánh thành để đáp ứng nhu cầu của người lao động. Bất cứ nơi nào có thể, các nhà văn hoá và câu lạc bộ nhân dân đã được thành lập và các trường đại học nhân dân cũng vậy. Điện ảnh, trước giờ vẫn được coi là một phương tiện để làm mất tinh thần quần chúng và làm giàu cho giới chủ, dần dần dẫu còn rất chậm, đã trở thành một trong những công cụ đắc lực nhất để khai sáng quần chúng và giáo dục họ theo tinh thần chủ nghĩa xã hội. Giờ đây, nhờ thời gian làm việc ngắn hơn, nó sẽ có thể trở thành của cải chung của nhân dân lao động. Còn trong tương lai, vấn đề sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc khai sáng là tổ chức một cách chu đáo các chuyến du ngoạn trong kỳ nghỉ nhằm giúp cho người lao động làm quen với đất nước của mình và với thế giới bên ngoài. Không có gì phải nghi ngờ rằng trong tương lai những chuyến du ngoạn như vậy sẽ có tầm quan trọng to lớn đối với người lao động của tất cả các quốc gia.

§ 85. Về phổ cập giáo dục cho lớp công nhân mới

Công cuộc tái thiết giáo dục của chính quyền Xô-viết đã thành công hơn bất cứ công cuộc tái thiết hay cải cách nào khác. Có nhiều lý do khác cho việc này bên cạnh việc chính quyền Xô-viết đầu tư cho giáo dục công lập lớn hơn nhiều so với các chính quyền tư sản. Trên hết, ta cần nhớ rằng con đường giác ngộ lý tưởng đoàn kết giai cấp lao động đã được mở ra đáng kể bởi chính các nhà giáo dục tiến bộ trong xã hội tư sản. Các nhà giáo dục Nga hàng đầu đã được thực hành những điều này trong thực tiễn dưới chế độ Xô viết, một điều mà họ nhận ra là cần thiết cho xã hội kh

i nhìn từ quan điểm sư phạm thuần túy. Trong hàng ngũ người lao động ngành giáo dục đã rời bỏ phe tư sản và hướng về phe Xô-viết, ta sẽ thấy nhiều cá nhân đã và đang giữ lấy quan điểm chống cách mạng vô sản trên hình thức nhưng lại nhiệt thành với cuộc cách mạng đã diễn ra nhờ tầng lớp vô sản trong lĩnh vực giáo dục.

Tuy vậy, những điều kiện lý tưởng này vẫn chưa đủ để vượt qua những thách thức mà nổi bật trong số đó là vấn đề về lực lượng lao động phục vụ trong ngành giáo dục trung thành với tầng lớp vô sản, khi mà số lượng giáo viên và chuyên gia trong ngành thuộc tầng lớp này rất ít và nhiều người có tư tưởng chống cộng. Tuy nhiên, nhiều người trong số đó lại là những người sẵn sàng phục vụ cho bất cứ chính quyền nào cũng như sẵn sàng làm việc bất kể chương trình giảng dạy nào, dù họ sẽ thiên vị hơn đối với những cương lĩnh và quan điểm gắn liền với thế hệ cha ông đi trước. Với việc này, chính quyền vô sản cần phải thực hiện hai bước: một là, huy động những nhân tài vật lực tốt nhất để tạo ra những hạt nhân của phong trào vô sản; hai là, Đảng Cộng sản cần đào tạo trong thế hệ trẻ một đội ngũ giáo dục hoàn toàn mới, được rèn luyện với tinh thần chủ nghĩa cộng sản mà nhất là tinh thần của đường lối giáo dục chủ nghĩa cộng sản.

§ 86. Người lao động cũng có thể tiếp cận với tinh hoa văn hóa nghệ thuật và khoa học

Trong xã hội tư bản, tài năng được coi như là một tài sản cá nhân của chủ sở hữu nó và cũng được xem như là một công cụ làm giàu vậy; những năng khiếu như thế được coi như một thứ hàng hóa có thể ngã giá được và vì thế có thể mua được bởi bất cứ ai trả giá cao nhất. Một công trình bởi thiên tài, một tác phẩm có ảnh hưởng xã hội sâu sắc và bất cứ ai hay bất cứ gì mang xuất thân đặc biệt đều có thể được mua lại bởi một người Nga nào đó tên Kolupayev hay một người Anh nào đó tên Morgan, và rồi người sở hữu đó có quyền thay đổi hay thậm chí tiêu hủy nó theo ý mình. Nếu thương nhân Mát-xcơ-va nổi tiếng Tretyakov vào một ngày đẹp trời nào đó bỗng quyết định đốt bỏ phòng tranh của mình thay vì triển lãm chúng cho thị dân của y thì cũng không có điều luật nào trong xã hội tư bản khiến y có thể bị kết tội. Hậu quả của việc mua bán và sở hữu tư nhân các tác phẩm nghệ thuật, sách hiếm, bản thảo quý,… chính là khiến chúng không thể được phổ biến rộng rãi trong dân chúng cũng như khiến chúng trở thành đặc quyền sở hữu của giai cấp bóc lột. Nước Xô-viết cộng hòa đã thừa nhận mọi tác phẩm nghệ thuật hay bất cứ bộ sưu tập nào có giá trị tương đương đều là tài sản thuộc sở hữu toàn dân cũng như dẹp bỏ mọi chướng ngại cho quyền sở hữu đấy. Điều tương tự cũng diễn ra đối với những quyết định thu hồi quyền sở hữu các thư viện cá nhân đồ sộ, có giá trị lớn để chúng có thể trở thành tài sản của toàn xã hội.

Đảng Cộng sản cần có sự vào cuộc trong vấn đề này thông qua bộ máy chính quyền. Về vấn đề thiếu nguồn sách cũng như phổ cập chậm trễ và tái bản các đầu sách lớn, cần xem xét giới hạn chặt chẽ sở hữu cá nhân (sách), cũng như đem sách tới các thư viện công cộng và trường học, v.v.

Ngoài ra, đối với vấn đề phổ cập văn hóa cũng như nhằm đảm bảo mọi người đều có cơ hội được tới các rạp hát, mọi nhà hát đều được quốc hữu hóa và do đó gián tiếp phổ cập kịch nghệ, âm nhạc tới toàn dân.

Nói chung, mọi công trình khoa học và nghệ thuật – vốn ban đầu được sáng tạo ra nhờ sự bóc lột quần chúng lao động và từng là gánh nặng trên lưng họ, từng được chính họ làm ra – giờ đã trở về với chủ nhân thực sự của nó.

§ 87. Hoạt động tuyên truyền của nhà nước Cộng Sản

Giờ đây, khi hệ thống tư bản đã bị lật đổ và một xã hội cộng sản mới đang được xây dựng trên đống đổ nát đó, việc tuyên truyền các tư tưởng cộng sản không chỉ là việc của riêng Đảng Cộng sản và không thể được tiến hành chỉ bằng những phương tiện khiêm tốn. Tuyên truyền cộng sản đã trở thành một nhu cầu thiết yếu cho cả xã hội đang được tái thiết. Nó phải đẩy nhanh quá trình quá độ tất yếu. Đối với những người cải cách, những người thường làm việc mà không nhận thức được đầy đủ những gì họ đang làm, tuyên truyền cộng sản phải thể hiện được tầm quan trọng của nghị lực và công sức của họ. Do đó, điều cần thiết là toàn bộ hoạt động của Nhà nước vô sản cần phải đóng góp vào công việc tuyên truyền cộng sản chứ không chỉ mỗi các trường học cộng sản làm việc này. Công việc tuyên truyền này phải được thực hiện trong quân đội; nó phải được thực hiện trong và bằng tất cả các công cụ của Nhà nước  Xô Viết.

Phương thức tuyên truyền cộng sản của Nhà nước hiệu quả nhất là hoạt động xuất bản của Nhà nước. Việc quốc hữu hóa tất cả dự trữ giấy và tất cả các cơ sở in giúp cho Nhà nước vô sản mặc dù khan hiếm giấy vẫn có thể xuất bản tới hàng triệu tài liệu đặc biệt quan trọng đối với quần chúng vào bất kỳ thời điểm nào. Mọi thứ phát hành từ báo chí Nhà nước đều được cung cấp cho toàn dân bằng cách xuất bản với giá rất thấp, thậm chí sách, tờ rơi, báo và áp phích cũng có thể được cho không. Về lâu dài, việc tuyên truyền của Nhà nước về chủ nghĩa cộng sản đã trở thành một phương tiện để xóa bỏ những dấu vết cuối cùng của tuyên truyền tư sản có từ thời chế độ cũ; và nó là một công cụ mạnh mẽ để tạo ra một hệ tư tưởng mới, một phương thức tư tưởng mới, một cách nhìn mới về thế giới.

§ 88. Giáo dục phổ thông dưới chế độ Sa hoàng và dưới chế độ Xô Viết

Chi tiêu của nhà nước cho giáo dục phổ thông ở Nga được trình bày trong bảng sau.

Năm

Rúp

1891

22,810,260

1911

27,883,000

1916

195,624,000

1917

339,831,687

1918

2,914,082,124

1919 (nửa năm)

3,888,000,000

Chúng ta thấy rằng ngay sau việc chuyển giao quyền lực cho giai cấp vô sản là sự gia tăng gấp gần mười lần chi tiêu cho giáo dục phổ thông.

Vào năm 1917, vào ngày 1 tháng 9, có 38.387 trường tiểu học (ở 26 tỉnh).

Trong năm học 1917-18, có 52.274 trường tiểu học, với 4.138.982 học sinh.

Trong năm học 1918-19, có khoảng 62,238 trường tiểu học.

Đối với các trường trung học cơ sở, trong năm học 1917-18 có 1.830 học sinh và trong năm học 1918-19 có 3.783 học sinh.

Các trường dự bị và các học viện tương tự được biết đến khá ít dưới thời Nga hoàng. Trong vấn đề này, nhà nước Liên Xô đã phải thực hiện một khởi đầu hoàn toàn mới. Bất chấp những hoàn cảnh không thuận lợi, đến ngày 1 tháng 10 năm 1919, tại 31 tỉnh, các trường mẫu giáo, trường mầm non và cơ sở giáo dục mầm non đã lên tới 2.615 trường và chăm sóc cho 155,448 trẻ em. Vào thời điểm này, khoảng 2,5% tổng số trẻ em từ ba đến năm tuổi đang theo học tại các cơ sở như vậy. Ở các thị trấn, tỷ lệ trẻ em được chăm sóc theo cách này hiện đang ở mức thấp và tỷ lệ này liên tục tăng lên.


Mục lục

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments