ABC về chủ nghĩa cộng sản (Chương VI)

Chương Ⅵ

CHÍNH QUYỀN XÔ VIẾT

§ 46. Chính quyền Xô Viết, một hình thức chuyên chính vô sản

Đảng chúng ta là người đầu tiên thành lập, người đầu tiên nhận ra nhu cầu về một chính quyền Xô Viết. Cuộc cách mạng vĩ đại tháng 11 năm 1917 đã được thực hiện dưới khẩu hiệu: ‘Tất cả quyền lực về tay các Xô viết!’ Khẩu hiệu này chưa từng được biết đến ở đâu cho đến khi Đảng chúng ta lấy nó làm phương sách cho mình. Nó không đơn giản chỉ là ý niệm thoáng xuất hiện trong đầu chúng ta! Khác xa với điều đó, ý tưởng này đã được hình thành ngay từ trung tâm của cuộc sống. Ngay từ cuộc cách mạng 1905-6, các tổ chức của giai cấp công nhân, được biết đến như là Xô viết đại biểu của công nhân, đã ra đời. Đến cách mạng năm 1917, số lượng lớn hơn nhiều của những tổ chức như vậy đã xuất hiện giống như nấm mọc sau mưa, các Xô viết công nhân, Xô viết binh lính và sau đó là Xô viết nông dân. Rõ ràng rằng các Xô viết này, vốn dĩ là công cụ được sử dụng trong cuộc đấu tranh giành quyền lực, chắc chắn phải được biến thành công cụ giành quyền lực.

Trước cuộc cách mạng Nga 1917, người ta đã nói và viết khá nhiều về nền chuyên chính của giai cấp vô sản, nhưng không ai biết rõ nền chuyên chính ấy sẽ được thực hiện dưới hình thức nào. Giờ đây, trong cuộc cách mạng Nga, hình thức của nền chuyên chính đó đã trở thành hiện thực với tên gọi Chính quyền Xô Viết. CHÍNH QUYỀN XÔ VIẾT LÀ SỰ HIỆN THỰC HOÁ NỀN CHUYÊN CHÍNH CỦA GIAI CẤP VÔ SẢN, ĐƯỢC TỔ CHỨC TRONG CHÍNH CÁC SOVIET NHƯ LÀ GIAI CẤP THỐNG TRỊ, VÀ, VỚI SỰ TRỢ GIÚP CỦA NÔNG DÂN, NGHIỀN NÁT SỰ KHÁNG CỰ CỦA TƯ SẢN VÀ ĐỊA CHỦ.

Có một thời, hầu hết mọi người đều tin rằng nền chuyên chính của giai cấp vô sản sẽ có thể tồn tại dưới hình thức một nền cộng hòa dân chủ, thứ được lập nên bởi Hội đồng lập hiến, và sẽ được quản lý bởi một quốc hội đại diện cho tất cả các giai tầng trong dân số. Ngay cả đến giờ, đám cơ hội chủ nghĩa và xã hội vẫn giữ nguyên quan điểm, tuyên bố rằng chỉ có Quốc hội Lập hiến và một nền cộng hòa dân chủ mới có thể cứu đất nước khỏi thảm họa nội chiến. Kinh nghiệm thực tế cho thấy một câu chuyện rất khác. Ví dụ, ở Đức, một nước cộng hòa như vậy được thành lập sau cách mạng tháng 11 năm 1918. Tuy nhiên, trong suốt thời gian kết thúc năm 1918 và trong suốt năm 1919 đã có những cuộc đấu tranh đẫm máu. Liên tục, giai cấp công nhân đòi hỏi thành lập chế độ Xô Viết. Đòi hỏi về một chế độ Xô Viết trên thực tế đã trở thành khẩu hiệu quốc tế của giai cấp vô sản. Ở tất cả các nước, công nhân đều thét vang khẩu hiệu này, cùng với sự đòi hỏi chế độ chuyên chính của giai cấp vô sản. Chính cuộc sống đã xác nhận cho tính chính xác của khẩu hiệu của chúng ta, ‘Tất cả quyền lực về tay các Xô viết’, không chỉ ở Nga, mà ở mọi nước có giai cấp vô sản.

 

§ 47. Dân chủ vô sản và dân chủ tư sản

Một nền cộng hòa dân chủ tư sản dựa trên cơ sở phổ thông đầu phiếu và cái gọi là ‘ý chí của nhân dân’, ‘ý chí của toàn dân tộc’, ‘ý chí đoàn kết của mọi giai cấp’. Những người ủng hộ cho một nền cộng hòa dân chủ tư sản, cho một Quốc hội lập hiến, v.v., bảo với chúng ta rằng chúng ta đang dùng bạo lực để thống nhất ý chí của dân tộc. Chúng ta hãy xem xét vấn đề này trước.

Trong Phần một, chúng ta đã được biết rằng xã hội đương đại bao gồm các giai cấp có lợi ích đối lập nhau. Ví dụ, thời gian làm việc kéo dài có thể có lợi cho giai cấp tư sản, nhưng lại là bất lợi cho giai cấp công nhân. Hòa bình giữa các giai cấp không khác gì hòa bình giữa sói và cừu. Sói muốn ăn cừu, vì vậy cừu phải tự vệ trước sói. Nhưng nếu đã vậy (và khỏi phải hoài nghi vì nó là như vậy), thì chúng ta phải đặt câu hỏi rằng liệu sói và cừu có thể có một ý chí chung hay không. Ai thông minh cũng biết rằng thật vô lý khi nói về bất cứ điều gì như thế. Đơn giản là không thể có một ý chí chung giữa cừu và sói. Chỉ có, hoặc ý chí của bầy sói, những kẻ muốn nô dịch những con cừu trong lừa dối và áp bức; hoặc ý chí của con cừu, của những kẻ muốn giải cứu bầy cừu khỏi bầy sói và đánh đuổi bọn kẻ cướp. Không thể có lối trung dung trong vấn đề này. Giờ đây, rõ ràng như ánh sáng ban ngày rằng điều tương tự cũng áp dụng cho hai giai tầng chính của xã hội loài người. Trong xã hội đương thời, giai cấp này đối kháng với giai cấp kia, giai cấp tư sản chống lại giai cấp vô sản, giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản. Giữa họ có một cuộc chiến của những cánh kéo. Làm sao họ có thể có một ý chí chung, một ý chí tư sản – vô sản? Rõ ràng là khả năng về một khát vọng chung giữa tư sản – vô sản cũng không hơn gì khả năng một khát vọng chung giữa sói-cừu. Hoặc ý chí của giai cấp tư sản, giai cấp muốn áp đặt, cách này hay cách khác, ý chí của mình nên đại đa số nhân dân bị áp bức, hoặc, ý chí của giai cấp vô sản, giai cấp muốn áp đặt ý chí của mình lên giai cấp tư sản. Thật là ngu xuẩn khi nói về một ý chí chung cho mọi giai tầng, lợi ích chung cho cả dân tộc, trong thời kỳ nội chiến, trong thời kỳ cách mạng, khi thế giới cũ vỡ vụn ra từng mảnh. Giai cấp vô sản muốn cải tạo thế giới trong khi giai cấp tư sản chỉ muốn củng cố chế độ nô lệ cũ.

Làm thế nào mà một ý chí ‘chung’ cho giai cấp tư sản và giai cấp vô sản là có thể? Rõ ràng rằng cái gọi là một ý chí chung cho cả dân tộc là sự lừa đảo nếu những từ đó nhằm áp dụng cho tất cả các giai tầng. Không có ý chí chung nào như vậy đã được thi hành hoặc có thể được thi hành.

Nhưng sự gian dối này là cần thiết đối với giai cấp tư sản, cần thiết cho việc duy trì chế độ tư bản chủ nghĩa. Các nhà tư bản chiếm thiểu số. Họ không thể mạo hiểm mà nói một cách công khai rằng sự cai trị thuộc về thiểu số nhỏ bé. Đây là lý do tại sao giai cấp tư sản phải gian dối, phải tuyên bố rằng họ cai trị nhân danh ‘toàn dân’, ‘mọi giai cấp’, ‘toàn thể dân tộc’, v.v..

Làm thế nào mà sự gian dối thực hiện được ở một ‘nước cộng hòa dân chủ’? Lý do chính khiến cho tới ngày nay giai cấp vô sản vẫn bị nô dịch là vì nó bị nô lệ về mặt kinh tế. Ngay cả trong một nước cộng hòa dân chủ, các nhà máy và nhà xưởng vẫn thuộc về tư bản, ruộng đất vẫn thuộc về tư bản và địa chủ. Người công nhân không có gì ngoài sức lao động của mình; còn người nông dân nghèo không có gì ngoài một mảnh đất nhỏ. Họ vĩnh viễn bị buộc phải lao động trong những điều kiện khủng khiếp, vì họ ở dưới gót chân của chủ. Trên giấy tờ, họ có thể làm được rất nhiều điều; trong thực tế, họ không thể làm gì cả. Họ không thể làm gì bởi vì tất cả của cải, tất cả quyền nắm giữ tư bản đều nằm trong tay kẻ thù của họ. Đây là những gì mà ta gọi là dân chủ tư sản.

Các nước cộng hòa tư sản tồn tại ở Hoa Kỳ, ở Thụy Sĩ và Pháp. Nhưng tất cả những quốc gia này đều bị cai trị bởi những tên đế quốc vô lương tâm, bởi những ông vua được uỷ nhiệm và những ông trùm ngân hàng, những kẻ thù ác độc của giai cấp công nhân. Nước cộng hòa dân chủ nhất tồn tại vào năm 1919 là Cộng hòa Đức với Quốc hội của nó. Tuy nhiên, đây chính là cái nước cộng hòa của chính những kẻ đã sát hại Karl Liebknecht.

Chính quyền Xô Viết hiện thực hóa một kiểu dân chủ mới, hoàn hảo hơn nhiều – nền dân chủ vô sản. Bản chất của nền dân chủ vô sản này bao gồm ở chỗ, nó dựa trên việc chuyển giao tư liệu sản xuất vào tay người lao động, do đó đã tước bỏ mọi quyền lực của giai cấp tư sản. Trong nền dân chủ vô sản, những người trước đây đã cấu thành nên quần chúng bị áp bức, và các tổ chức của họ, đã trở thành công cụ cai trị. Trong hệ thống xã hội tư bản chủ nghĩa, và do đó ở các nước cộng hòa dân chủ tư sản, đã tồn tại các tổ chức của công nhân và nông dân. Tuy nhiên, họ bị áp đảo bởi các tổ chức của người giàu. Mặt khác, dưới chế độ dân chủ vô sản, những người giàu đã bị tước đoạt của cải của họ. Các tổ chức quần chúng của công nhân, nông dân bán vô sản, v.v. (Xô viết, công đoàn, ủy ban xí nghiệp, v.v.), đã trở thành cơ sở thực tế của chính quyền Nhà nước vô sản. Trong hiến pháp của nước Cộng hòa Xô viết đã tuyên bố ngay từ đầu: ‘Nga tuyên bố mình là một nước cộng hòa đại biểu của công nhân, binh lính và nông dân. Tất cả quyền lực, kể cả trung ương và địa phương, đều được trao cho các Xô viết này.’

Nền dân chủ Xô Viết không đơn thuần là loại trừ các tổ chức của công nhân ra khỏi chính phủ, mà nó thực sự biến chúng trở thành công cụ chính phủ. Nhưng khi các Xô viết và các tổ chức khác của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân có số lượng thành viên lên đến hàng triệu người, Chính quyền Xô viết đã giao phó cho vô số những người trước đây từng bị áp bức và bần cùng hoá những trách nhiệm mới. Ở mức độ lớn hơn bao giờ hết, đông đảo quần chúng nhân dân, công nhân và nông dân nghèo tham gia vào những hoạt động chung của các Xô viết, Công đoàn và các cấp ủy xí nghiệp. Điều này đang diễn ra ở khắp mọi nơi. Ở các thị trấn, làng quê, những người chưa từng làm việc gì trước đây nay đang tích cực tham gia vào công việc hành chính và xây dựng cuộc sống mới. Bằng cách này, Quyền lực Xô viết đảm bảo một chính quyền tự trị rộng rãi nhất cho các địa phương khác nhau, đồng thời triệu tập đông đảo quần chúng nhân dân tham gia vào công việc giành chính quyền.

Rõ ràng là đảng ta phải dốc hết sức để thúc đẩy sự phát triển trên toàn thế giới của nền dân chủ vô sản kiểu mới này. Chúng ta phải cố gắng hết sức để bảo đảm rằng các tầng lớp nhân dân vô sản và nông dân nghèo nhất sẽ tham gia với quyền hạn tối đa của họ vào công việc của các Xô viết. Trong một cuốn sách nhỏ của mình, được xuất bản trước cuộc cách mạng tháng Mười một, đồng chí Lenin đã viết rất chân thực rằng nhiệm vụ của chúng ta là cho mọi người thấy rằng đến bà nội trợ cũng sẽ học được cách để đảm nhận vai trò của mình trong chính quyền. Tất nhiên đây không phải là một công việc dễ dàng và có nhiều trở ngại cho việc thực hiện nó. Đầu tiên trong số những trở ngại đó là trình độ văn hóa thấp của quần chúng. Đội tiên phong của công nhân chỉ là một nhóm nhỏ. Trong đội tiên phong này ví dụ dễ thấy nhất là các công nhân công nghiệp. Nhưng một bộ phận lớn người lao động còn lạc hậu, và điều này đặc biệt đúng đối với các huyện vùng quê. Họ thiếu sáng kiến, họ thiếu giảng viên có tính sáng tạo; họ đứng sang một bên và để người khác thực hiện những bước đầu tiên. Nhiệm vụ của Đảng ta là thu hút một cách có hệ thống và từng bước các tầng lớp lạc hậu này tham gia vào công việc điều hành chung. Tất nhiên, cách duy nhất để đưa các tầng lớp nhân dân mới tham gia vào công việc là nâng cao trình độ văn hóa và năng lực tổ chức của họ.

§48. Tính giai cấp và tính phạm trù lịch sử của nền chuyên chính vô sản

Giai cấp tư sản ở khắp mọi nơi đã che giấu sự thống trị giai cấp của nó đằng sau cái mặt nạ ‘sự nghiệp của toàn thể nhân dân’. Làm sao mà giai cấp tư sản, một nhóm tương đối nhỏ những kẻ ký sinh, lại có thể công khai thừa nhận rằng nó áp đặt ý chí của giai cấp nó lên tất cả? Làm sao mà giới tư sản dám mạo hiểm tuyên bố rằng nhà nước không là gì ngoại trừ một liên minh của bọn kẻ cướp? Ngay cả khi giới tư sản đã nâng mức độ nhuốm máu của độc tài quân phiệt lên một tầm cao mới, nó vẫn tiếp tục nói về ‘sự nghiệp của toàn thể dân chúng’. Nhưng giai cấp tư sản lại khéo léo một cách khác thường trong việc mị dân thông qua cái gọi là ‘nền cộng hoà dân chủ’. Trong thể chế này, giai cấp tư sản là kẻ thống trị và giữ vững sự độc tài bằng cách duy trì những đại diện nhất định. Những người công nhân được trao quyền sử dụng lá phiếu bầu cử nghị viện mỗi ba hoặc bốn năm, nhưng họ bị loại trừ cẩn thận khỏi quyền lực hành chính. Song, vì cơ chế phổ thông đầu phiếu tồn tại mà giới tư sản buộc phải lớn tiếng tuyên bố rằng ‘toàn thể dân chúng’ nắm quyền cai trị.

Chính quyền Xô Viết công khai tuyên bố tính chất giai cấp của mình. Nó không cố gắng che giấu rằng nó là chính quyền mang tính giai cấp, rằng Nhà nước Xô Viết là chế độ chuyên chính của người nghèo. Điểm này được nhấn mạnh ngay trong chính cái tên của nó; Chính phủ Xô viết được gọi là Chính phủ của công nhân và nông dân. Hiến pháp, nghĩa là những đạo luật cơ bản của nước Cộng hòa Xô Viết của chúng tôi, được Đại hội Xô viết toàn Nga lần thứ ba thông qua, tuyên bố rõ ràng: ‘Đại hội đại biểu toàn Nga Xô Viết lần thứ ba của công nhân, binh lính và nông dân tuyên bố rằng, hiện tại trong thời khắc quyết định của cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và những kẻ bóc lột, không thể có chỗ cho những kẻ bóc lột trong bất kỳ công cụ quyền lực nào.’ Chính quyền Xô Viết không chỉ tuyên bố tính chất giai cấp của mình mà còn không ngần ngại tước bỏ quyền bầu cử và loại khỏi công cụ quyền lực những đại diện của những giai cấp thù địch với giai cấp vô sản và nông dân. Vì lý do gì mà chính quyền Xô Viết có thể hành động và phải hành động một cách công khai như vậy? Vì chính quyền Xô viết thực sự là sức mạnh của quần chúng lao động, sức mạnh của đại đa số nhân dân. Nó không có cơ hội để che giấu rằng nó được sinh ra trong các khu của tầng lớp lao động. Hoàn toàn không, vì chính quyền Xô Viết càng khẳng định rõ ràng về nguồn gốc và ý nghĩa của nó thì mối quan hệ giữa chính nó và quần chúng càng khăng khít hơn, và thành công của nó trong cuộc đấu tranh chống lại những kẻ bóc lột sẽ càng nổi bật hơn.

Đương nhiên tình trạng này sẽ không kéo dài mãi mãi. Cốt lõi của việc này là như thế này. Đúng là rất cần thiết phải đập tan sự kháng cự của bọn bóc lột. Nhưng ngay khi những kẻ bóc lột vừa bị trấn áp, bị kiềm chế và bị buộc phải phục tùng, ngay khi chúng được cải tạo để lao động và trở thành công nhân như những người khác, lúc đó áp lực gây lên chúng sẽ được giảm bớt và nền chuyên chính vô sản sẽ dần dần biến mất.

Điều này được quy định rõ ràng trong hiến pháp của chúng tôi (Phần 2, chương 5): ‘Nhiệm vụ cơ bản của hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Xô Viết, một hiến pháp đã được sửa lại cho phù hợp nhu cầu của giai đoạn quá độ, bao gồm việc thiết lập nền chuyên chính của công nhân thành thị lẫn nông thôn và các nông dân nghèo dưới hình thức chính quyền Xô Viết toàn Nga, mục đích là để tác động sự sụp đổ của giai cấp tư sản, để chấm dứt tình trạng người bóc lột người và để thực hiện lý tưởng chủ nghĩa xã hội nơi mà sẽ không có phân chia giai cấp hay bất kỳ chính quyền Nhà nước nào.’

Từ đây ta có thể đúc rút ra được nhiệm vụ của Đảng chúng tôi. Đảng phải vạch trần một cách có hệ thống sự gian trá của giới tư sản, sự gian trá ấy được vận hành như sau. Tuy người lao động được trao một số quyền nhất định nhưng anh ta lại bị phụ thuộc về mặt vật chất vào giới chủ. Do đó, nhiệm vụ của Đảng là phải đè bẹp những kẻ bóc lột bằng mọi phương thức mà giai cấp vô sản có thể sử dụng. Hơn nữa, phận sự của Đảng là từ từ giảm thiểu và thu hồi các biện pháp mà ban đầu cần thiết phải thực thi, trong phạm vi có thể đè bẹp những kẻ bóc lột và bọn ăn bám, trong phạm vi có thể cải tạo lại chúng. Ví dụ, chúng ta hãy giả sử rằng các tầng lớp trí thức đã gần gũi giai cấp công nhân hơn, họ không còn thù địch với công nhân nữa, tất cả những gì họ làm hoàn toàn đứng về phía chính quyền Xô Viết, họ đang có mối quan hệ tốt đẹp nhất với giai cấp vô sản. Khi điều này xảy ra (và chỉ là vấn đề thời gian), chúng tôi sẽ có trách nhiệm phải trao cho các tầng lớp trí thức ấy đầy đủ các quyền dân sự và chấp nhận họ vào gia đình của chúng tôi. Ngày nay, khi cả thế giới đang trong vòng tay chống lại nền Cộng hòa của những người công nhân, sẽ là quá sớm để nói về việc mở rộng các quyền như vậy. Nhưng chúng tôi không bao giờ được ngừng làm rõ ràng rằng việc mở rộng quyền cuối cùng sẽ được trao, và sẽ được trao sớm hơn trong chừng mực mà những nỗ lực của những kẻ bóc lột nhằm lật đổ chủ nghĩa cộng sản bị chấm dứt nhanh hơn. Theo cách này, nhà nước vô sản sẽ dần dần bị tan rã và sẽ trải qua quá trình chuyển đổi thành một xã hội cộng sản không còn quốc gia, ở đó sự phân chia giai cấp sẽ hoàn toàn biến mất.

§49. Quyền của người công nhân dưới nền dân chủ tư sản và dưới chính quyền Xô Viết 

Một trong những thứ dối trá của nền dân chủ tư sản nằm ở chỗ, nó chỉ trao quyền lợi cho những đại diện của mình. Trên sách vở chúng ta được tuyên truyền rằng những người công nhân có toàn quyền tự do ứng cử vào nghị viện, họ bình đẳng với giới chủ về quyền lợi (họ được tuyên truyền rằng ‘Tất cả đều bình đẳng trước pháp luật’), họ có quyền tập hợp và tổ chức mít-tinh công khai, họ có quyền xuất bản sách báo theo nguyện vọng, và vân vân. Những thứ này được gọi là ‘bản chất của dân chủ’, chúng ta được cam đoan rằng dân chủ là cho tất cả mọi người, cho cả dân tộc, cho toàn bộ công dân, cho nên những điều kiện cũng khá khác biệt với cộng hoà Xô Viết.

Trước tiên chúng ta phải chỉ ra rằng không có nền dân chủ tư sản nào như thế tồn tại. Nó từng tồn tại hàng trăm năm trước, nhưng ‘Quý ông Tư sản’ đã phá huỷ nó kể từ rất lâu về trước.

Hoa Kỳ là ví dụ tốt nhất về điều này. Tại nơi đây, trong thời kỳ chiến tranh, các luật sau đây đã được ban hành: Cấm phát ngôn coi thường tổng thống; cấm phát ngôn làm mất uy tín của Đồng minh; cấm tuyên bố rằng con đường mà Hoa Kỳ và phe Hiệp Ước tham gia chiến tranh là kết quả của những động cơ vật chất bẩn thỉu; cấm ủng hộ một nền hòa bình quá sớm; cấm lên án công khai chính sách của chính phủ Hoa Kỳ; cấm nói bất cứ điều gì về sự uy tín của nước Đức; cấm chủ trương lật đổ trật tự hiện có, bãi bỏ tư hữu, chiến tranh giai cấp, v.v … Hình phạt nếu vi phạm bất kỳ điều luật nào trong số này là từ 3 đến 20 năm tù. Trong vòng một năm, khoảng 1.500 công nhân đã bị bắt vì những hành vi vi phạm như vậy. Tổ chức giai cấp công nhân được gọi là IWW (Công nhân công nghiệp thế giới) đã bị tấn công dã man và một số lãnh đạo của tổ chức này đã bị bắt. Về ví dụ ‘quyền đình công’, chúng ta có thể đề cập đến cuộc đình công tại các mỏ đồng ở Arizona vào năm 1917 khi nhiều công nhân bị bắn, những người khác bị đánh và những người khác bị tẩm nhựa và ép lông; khi cả gia đình bị đuổi khỏi nhà và trở thành kẻ ăn xin. Một ví dụ khác, trong cuộc đình công tại các mỏ than của Rockefeller tại Ludlow thuộc Bang Colorado, các tay súng của Rockefeller đã bắn và thiêu sống hàng trăm công nhân và phụ nữ. Mặc dù Quốc hội được bầu chọn theo chế độ phổ thông đầu phiếu nhưng nó chỉ thực hiện mệnh lệnh của các đầu sỏ tơ-rớt vì gần như tất cả các dân biểu đều được tơ-rớt mua chuộc. Những tên vua không ngai này là những tên độc tài thực sự của nước Mỹ. Trong số đó, chúng ta có thể kể tên: Rockefeller, người đứng đầu tơ-rớt dầu tiêu chuẩn, thứ kiểm soát một số lượng lớn các ngân hàng ngoài các giếng dầu; Morgan, vua đường sắt, cũng nắm quyền kiểm soát nhiều ngân hàng; Schwab, ông vua thép; Swift, người đứng đầu tơ-rớt thịt; Dupont, vua bột, kẻ đã tích lũy được của cải đáng kinh ngạc trong chiến tranh. Chỉ cần nói rằng thu nhập của Rockefeller là 10.000 đô la mỗi giờ là đủ thấy! Ai có thể chống lại sức mạnh như vậy? Băng đảng của Schwabs và Rockefellers nắm giữ mọi thứ trong tay với danh nghĩa ‘dân chủ’.

Ngay cả khi thứ được gọi là dân chủ tư sản thực sự tồn tại thì so với chính quyền Xô Viết nó cũng chẳng đáng một xu. Những luật lệ trên giấy tờ chẳng có ích gì với giai cấp lao động trừ khi tồn tại khả năng để họ thực hiện chúng. Nhưng khả năng ấy không bao giờ xuất hiện dưới chế độ tư bản, dưới hệ thống mà của cải nằm hết trong tay các nhà tư bản. Kể cả những người công nhân có hưởng quyền mít-tinh trên giấy tờ thì họ cũng thường thấy việc sử dụng quyền đó là bất khả thi. Ví dụ, những người chủ khách sạn nhà trọ bị xúi giục bởi những tên tư bản lớn nhất hoặc bị thúc đẩy bởi lòng căm thù của chính họ đối với những người công nhân đã thường xuyên từ chối cho phép dùng phòng để thực hiện mít-tinh, và như thế thì những người công nhân không còn nơi nào để đi. Đây là một ví dụ khác. Những người công nhân mong ước xuất bản một tờ báo và họ có quyền hợp pháp để làm điều ấy. Nhưng để thực hiện điều này thì họ phải có tiền bạc, giấy, văn phòng, máy in… Tất cả những thứ này đều nằm trong tay các nhà tư bản và chúng sẽ không buông lơi những thứ đang nắm giữ. Vậy là không có gì hoạt động cả! Ngoài đồng lương nhỏ mọn ra thì người công nhân không thể tích luỹ đủ quỹ cần thiết. Kết quả là giới tư sản có hàng loạt tờ báo và có thể lừa dối công nhân ngày qua ngày đúng như mong muốn mãnh liệt của nó, trong khi những người công nhân bất kể có ‘quyền’ hợp pháp thì cũng không thể tự in trong thực tiễn.

Đấy chính là bộ mặt thật của sự tự do dành cho người công nhân dưới nền dân chủ tư sản. Tự do ấy chỉ có tồn tại trên giấy tờ mà thôi. Cái tự do mà người công nhân có được là thứ tự do ‘hình thức’. Thực chất, họ không hề có tự do vì cái tự do hình thức không thể chuyển hoá vào trong thực tế. Điều này cũng đúng với tất cả những lĩnh vực khác trong cuộc sống. Theo như lý thuyết tư sản thì giới chủ và lao động thuê đều bình đẳng vì ‘hợp đồng tự do’ tồn tại: người chủ đưa ra công việc còn công nhân tự do chấp nhận hoặc từ chối. Vì vậy mà mọi thứ đều chỉ là trên giấy tờ. Trong thực tiễn, người chủ thì giàu có và được ăn uống tử tế còn công nhân thì nghèo đói. Anh ta phải lao động hoặc chết đói. Cái này mà được gọi là bình đẳng ư? Không thể nào có bình đẳng giữa giàu và nghèo, bất kể những lý thuyết đó khẳng định điều gì. Đó là lý do tại sao trong chế độ tư bản thì ‘tự do’ có hình thái tư sản.

Mặt khác, ở Cộng hòa Xô viết, tự do thực sự tồn tại đối với giai cấp công nhân. Nó tồn tại bởi vì nó là một sự tự do có thể được chuyển thành thực tế. Chúng tôi xin phép trích dẫn từ hiến pháp của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Xô Viết Nga (Phần II, Chương 5).

’14. Để bảo đảm quyền tự do biểu đạt ý kiến thực sự cho người lao động, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Xô Viết Nga xóa bỏ sự phụ thuộc của báo chí vào tư bản, giao cho giai cấp công nhân và giai cấp nông dân nghèo mọi phương tiện vật chất kỹ thuật cho xuất bản báo chí, tiểu luận, sách vở, và tất cả các sản phẩm khác của máy in, đồng thời cung cấp dịch vụ phát hành miễn phí trên khắp đất nước.

’15. Để đảm bảo cho người lao động quyền hội họp thực tế, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Xô Viết Nga trao cho tất cả công dân của Cộng hòa Xô viết quyền không bị hạn chế để tổ chức các cuộc họp và đại hội, diễu hành trong các đám rước, v.v., và đặt vào tay của giai cấp lao động và nông dân nghèo tất cả các tòa nhà phù hợp với mục đích tổ chức các cuộc họp công cộng, cùng với việc cung cấp ánh sáng, sưởi ấm, v.v.

’16. Để đảm bảo quyền tự do phối hợp thực sự cho người lao động, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết Nga, đã lật đổ quyền lực kinh tế và chính trị của các giai cấp chiếm hữu, đồng thời xóa bỏ mọi rào cản trong xã hội tư sản cho đến nay đã ngăn cản công nhân và nông dân một cách hữu hiệu khỏi việc thực hiện quyền tự do tổ chức và hoạt động, cung cấp cho công nhân và nông dân nghèo mọi cách trợ giúp, vật chất và tinh thần, những thứ tiên quyết cho sự phối hợp và tổ chức của họ.

’17. Để đảm bảo công nhân có thể tiếp cận tri thức hiệu quả, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Liên bang Xô Viết Nga có phận sự phải cung cấp cho những người công nhân và nông dân nghèo một nền giáo dục đầy đủ, đa phương và miễn phí.

Ở đây ta thấy một sự khác biệt to lớn giữa tự do giả mạo của nền dân chủ tư sản và tự do có thật của nền dân chủ vô sản.

Chính quyền Xô Viết và Đảng của chúng tôi đã đạt được nhiều thành tựu theo đường lối này. Các dinh thự của quý tộc, nhà hát, xưởng in, giấy, v.v. – tất cả những thứ này hiện thuộc về các tổ chức của giai cấp công nhân và của Nhà nước công nhân. Nhiệm vụ xa hơn nữa của chúng tôi là giúp đỡ bằng mọi phương thức có thể để các tầng lớp vô sản và nông dân thực hiện đầy đủ các quyền này. Điều này sẽ đạt được theo hai cách. Trước hết, chúng tôi phải liên tục tiến lên theo con đường mà chúng tôi đã vạch ra và phải làm mọi cách trong khả năng của mình để mở rộng cơ sở vật chất cho quyền tự do của người lao động. Do đó, chúng tôi phải làm hết sức mình để thiết kế và xây dựng những ngôi nhà mới, thiết lập các xưởng in mới, lắp đặt các toà nhà lớn cho công nhân, v.v. Thứ hai, các tầng lớp dân chúng lạc hậu phải được làm quen một cách thân tình với những khả năng tự do đã tồn tại nhưng cho đến nay họ vẫn chưa thể được hưởng lợi ích do sự thiếu hiểu biết, tinh thần tăm tối và thiếu hụt văn hóa.

§ 50. Sự bình đẳng giữa những người lao động, không phân biệt giới tính, tín ngưỡng và chủng tộc

Nền dân chủ tư sản tuyên bố đảm bảo một loạt các quyền tự do, nhưng đối với những người bị áp bức, những quyền tự do này được bảo vệ bằng năm ổ khóa và bảy con dấu. Trong số những điều khác, nền dân chủ tư sản thường tuyên bố rằng mọi người bình đẳng không phân biệt giới tính, tín ngưỡng, chủng tộc và quốc tịch. Chúng tự hào mà cam kết rằng dưới chế độ dân chủ tư sản, tất cả mọi người đều bình đẳng: phụ nữ với nam giới; người da trắng, da vàng với da đen; Châu Âu với Châu Á; Phật tử, Thiên chúa giáo với Do Thái. Trên thực tế, giai cấp tư sản đã không giữ được những cam kết này. Trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, đã có sự gia tăng khủng khiếp của áp bức chủng tộc và quốc gia trên khắp thế giới. Nhưng ngay cả khi liên quan đến phụ nữ, nền dân chủ tư sản sẽ mất không ít thời gian để thực hiện được bình đẳng. Người phụ nữ vẫn là một sinh vật không có quyền, một vật nuôi trong nhà, một phần tô điểm trên cái tràng kỷ hôn nhân.

Người công nhân nữ trong xã hội tư bản bị áp bức, đặc biệt bị tước đoạt quyền lợi. Trong mọi vấn đề, cô ấy thậm chí còn có ít hơn những quyền lợi mà giai cấp tư sản cấp cung cấp cho người lao động. Quyền bỏ phiếu của họ ở quốc hội chỉ được thừa nhận ở một số quốc gia. Về quyền thừa kế, phụ nữ ở khắp mọi nơi đều nhận được phần của kẻ ăn xin. Trong cuộc sống gia đình cô ấy luôn phải phục tùng chồng, mọi việc xảy ra sai sót đều đổ lên đầu cô ấy. Nói một cách ngắn gọn, cách nền dân chủ tư sản đối xử với phụ nữ ở khắp mọi nơi khiến chúng ta nhớ đến những phong tục của những kẻ man rợ, những kẻ trao đổi, mua bán, trừng phạt hoặc bắt cóc phụ nữ như thể họ là những nô lệ, những con búp bê hoặc những con vật thồ hàng. Người Nga chúng tôi có câu: “Gà mái không phải là chim, và đàn bà không phải là người”; đây không khác gì sự định giá của một xã hội nô lệ. Tình trạng này vô cùng bất lợi đối với giai cấp vô sản. Có nhiều phụ nữ hơn nam giới trong số những người lao động. Rõ ràng là cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản bị cản trở rất nhiều bởi sự thiếu bình đẳng giữa hai nửa của nó. Nếu không có sự trợ giúp của phụ nữ giai cấp vô sản, thì thật là việc này không khác gì mơ giữa ban ngày, mong chiến thắng chung cuộc, thật là nhàn rỗi để mơ đến sự ‘giải phóng sức lao động’. Vì lý do này, giai cấp công nhân rằng cần phải có tình đồng chí chiến đấu đồng lòng giữa các bộ phận nữ và nam của giai cấp vô sản, và tình đồng chí này cần được củng cố bằng sự bình đẳng. Chính quyền Xô Viết là người đầu tiên thực hiện sự bình đẳng như vậy trong mọi lĩnh vực của cuộc sống: trong hôn nhân, trong gia đình, trong các vấn đề chính trị, v.v … Trong mọi việc, trên khắp nước Nga Xô Viết, phụ nữ bình đẳng với nam giới.

Đảng của chúng ta gánh trên vai trách nhiệm phải hiện thực hoá sự bình đẳng này vào cuộc sống thực tế. Trước hết, chúng ta phải nói rõ cho đông đảo công nhân thấy rằng việc coi phụ nữ là thấp kém là một điều vô cùng có hại đối với họ. Cho đến tận nay, một số người lao động có phong tục coi phụ nữ như những người thấp kém hơn; còn với những người nông dân, họ cười cợt khi một “người phụ nữ tầm thường” bắt đầu quan tâm đến các công việc xã hội. Ở Cộng hòa Xô Viết, nữ công nhân có các quyền y hệt như nam công nhân; cô ấy có thể tham gia bỏ phiếu bầu các Xô viết và ra ứng cử; cô ấy có thể nắm giữ bất kỳ chức vụ uỷ viên nào; có thể làm bất cứ công việc gì trong quân đội, trong đời sống kinh tế và quản lý nhà nước.

Nhưng ở Nga, công nhân nữ vẫn còn bị tụt lại rất xa phía sau nam giới.  hơn nhiều so với nam giới. Nhiều người coi thường họ. Trong vấn đề này, cần có những nỗ lực bền bỉ: để thay đổi hành vi của những người đàn ông, để không cản đường phụ nữ; đối với phụ nữ, để họ có thể sử dụng đầy đủ các quyền của mình mà không còn phải rụt rè hay khó nhọc.

Chúng ta không được quên rằng ‘mọi bà nội trợ phải được dạy để đảm nhận vai trò của mình trong quản lý của chính phủ’. Chúng ta đã học ở trên rằng vấn đề thực sự quan trọng không phải là quyền được viết trên giấy, mà là khả năng hiện thực hóa một quyền trong thực tế. Làm sao một người phụ nữ lao động có thể thực hiện quyền của mình một cách hiệu quả khi phải dành quá nhiều thời gian cho việc nhà, phải đi chợ, phải giặt giũ quần áo, phải trông con, và phải gánh vác tất cả sự cực nhọc này?

Mục tiêu của Cộng hòa Xô viết và của đảng chúng ta phải là giải phóng phụ nữ lao động khỏi chế độ nô lệ như vậy, giải phóng phụ nữ lao động khỏi những điều kiện lạc hậu và cổ xưa này. Việc tổ chức các công xã (không phải là nơi mọi người sẽ cấu xé nhau, mà là nơi họ sẽ sống như con người) với các phòng giặt giũ chung, căng tin chung; tổ chức các vườn trẻ, nhà trẻ, sân chơi, khu hè cho trẻ em, trường học có phòng ăn chung, v.v. – đó là những thứ sẽ thu hút người phụ nữ, và sẽ thúc đẩy phụ nữ quan tâm đến tất cả những vấn đề mà những người đàn ông vô sản hiện đang quan tâm.

Trong thời đại tàn phá và đói kém, tất nhiên rất khó để thực hiện tất cả những điều này theo đúng lý thuyết. Tuy nhiên, Đảng ta phải cố gắng hết sức để thu hút người lao động nữ tham gia vào nhiệm vụ chung bằng những dự án trên.

Bình đẳng quốc gia, bình đẳng chủng tộc, v.v., sẽ được xem xét trong chương tiếp theo. Ở đây chúng tôi sẽ chỉ trích dẫn các đoạn trong hiến pháp liên quan đến chủ đề này (Phần II, Chương 5).

’20. Theo quan điểm của sự đoàn kết của những người lao động trên mọi miền đất, Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga trao các quyền chính trị của công dân Nga cho người nước ngoài sống trên các lãnh thổ của Cộng hòa Nga, miễn là họ sống bằng chính sức lao động của mình và thuộc về giai cấp công nhân. hoặc là những người nông dân không bóc lột sức lao động của người khác; nó công nhận quyền của các Xô viết địa phương trong việc cấp quốc tịch Nga cho những người nước ngoài như vậy mà không cần bất kỳ thủ tục tẻ nhạt nào.

’21. Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga trao quyền tị nạn cho tất cả những người nước ngoài bị đàn áp do vi phạm chính trị hoặc tôn giáo.

’22. Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, thừa nhận quyền bình đẳng của mọi công dân không phân biệt nguồn gốc chủng tộc hoặc quốc gia, coi việc thiết lập hoặc duy trì bất kỳ đặc quyền hoặc lợi thế ưu đãi nào trên cơ sở nguồn gốc đó là trái với luật cơ bản của nước cộng hòa; tương tự, bất kỳ hình thức áp bức nào đối với các dân tộc thiểu số hoặc bất kỳ giới hạn nào về quyền bình đẳng của họ. ‘

§ 51. Chủ nghĩa Nghị viện và hệ thống Xô Viết

Ở các nước dân chủ tư sản, đứng đầu mọi thứ là cái được gọi là nghị viện. Đây là một tổ chức đại diện, và quyền bầu cử của công dân không đồng đều giữa các quốc gia trên thế giới. Trong một số nước, chỉ những người giàu có mới được đi bầu; trong một số quốc gia khác thì một bộ phận dân nghèo được phép bầu; trong nhóm thứ ba, tất cả nam giới ở một độ tuổi nhất định đều có thể bỏ phiếu; ở một quốc gia thứ tư, tất cả phụ nữ cũng vậy.

Nhưng ngay cả khi quốc hội được bầu cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu, thì đa số ghế luôn được chiếm bởi các đại diện của giai cấp tư sản. Tại sao điều này luôn luôn xảy ra? Quan điểm của những gì chúng ta đã học đã cho thấy lý do rõ ràng. Chúng ta hãy giả sử rằng công nhân, những người chiếm đa số trong cả nước, có quyền bầu cử. Nhưng chúng ta hãy giả sử thêm rằng tất cả của cải đều nằm trong tay các nhà tư bản, rằng họ sở hữu tất cả các tờ báo và tất cả những nơi có thể tổ chức các cuộc họp công cộng, và có các nghệ sĩ, nhà in ấn và hàng triệu tờ rơi phục vụ họ; rằng tất cả các giáo sĩ ủng hộ họ; Hơn nữa, chúng ta hãy giả sử rằng những người lao động nghèo đang phải lao động ngày này qua ngày khác trong công việc mệt mỏi, đến nỗi họ không có nơi gặp gỡ, rằng những người thông minh xung quanh họ (đặc vụ của giai cấp tư sản, luật sư, nhà báo và những người nói chuyện lanh lợi khác) ủng hộ những khẩu hiệu nghe có vẻ tuyệt vời, và do đó làm bối rối tâm trí của người lao động; chúng ta hãy nhớ đến những nguồn tài chính khổng lồ của các quỹ tơ rớt, cho phép họ làm mua chuộc các đại diện của người lao động – dù ngay từ đầu những người này có thể trung thực – bằng cách cung cấp những công việc thoải mái, bằng cách tâng bốc trên báo chí hàng ngày, v.v. Sau đó, chúng ta có thể hiểu tại sao ngay cả trong các nghị viện như vậy, đa số luôn bao gồm các đặc vụ ngầm hoặc công khai của giai cấp tư sản, của tư bản tài chính, của các ông vua ngân hàng.

Do đó, thật là khó khăn đối với quần chúng lao động khi bầu bất kỳ người nào trong số những người dân của họ làm đại diện.

Một khi một đại diện tìm được đường đến quốc hội, vấn đề đã kết thúc; anh ta có thể thách thức các cử tri; trong ba hoặc bốn năm chỗ ngồi của anh ta được an toàn. Anh ấy độc lập với chúng. Anh ta bán mình cho tất cả các phe cánh. Anh ta không thể thu hồi chức vụ bởi các cử tri; luật pháp không có điều khoản nào cho bất cứ điều gì thuộc loại này.

Đó là tình trạng của các vấn đề trong một nước cộng hòa dân chủ tư sản theo chủ nghĩa nghị viện. Nó rất khác ở Cộng hòa Xô viết. Ở đây, những kẻ ăn bám – những người buôn bán và chủ nhà máy, quan chức và địa chủ, sĩ quan quân đội và nông dân giàu có – không có quyền bầu cử. Họ không được bầu cũng như không được người khác bầu. Mặt khác, việc thực hiện quyền bầu cử của công nhân và nông dân nghèo rất đơn giản và dễ dàng. Hơn nữa, mọi đại biểu của Liên Xô có thể được triệu hồi bởi các cử tri, những người có thể cử người khác thay thế vị trí của mình. Nếu đại biểu hoàn thành không tốt nhiệm vụ, thay đổi lòng trung thành … thì có thể bị thu hồi. Quyền thu hồi này chưa nơi nào được áp dụng rộng rãi như ở Cộng hòa Xô viết.

Trong một nước cộng hòa tư sản, nghị viện là một ‘cửa hàng nói chuyện’; các thành viên không làm gì khác ngoài thảo luận và phát biểu. Công việc thực sự được thực hiện bởi các quan chức, bộ trưởng của Nhà nước, vv Quốc hội thông qua luật; nó ‘kiểm soát’ các bộ trưởng bằng cách hỏi họ nhiều câu hỏi khác nhau; nó biểu quyết những gì chính quyền quyết định. Quyền lập pháp tập trung trong tay quốc hội. Nhưng quyền hành pháp nằm trong tay nội các. Nghị viện, do đó, không làm gì cả; quốc hội chỉ đơn thuần nói chuyện. Trong hệ thống Xô Viết, các công việc được sắp xếp khá khác nhau. Công cụ cao nhất và quan trọng nhất của chính phủ là Đại hội Xô viết. Hiến pháp nêu rõ: ‘Đại hội Xô viết toàn Nga là cơ quan quyền lực tối cao của Cộng hòa Xô viết Liên bang xã hội chủ nghĩa Nga.’ Nó phải đáp ứng ít nhất hai lần một năm. Sau khi xem xét tình hình chung, nó đưa ra quyết định phù hợp, và trở thành luật. Các thành viên của đại hội không phải là những người nói chuyện chuyên nghiệp, mà là những người lao động thực sự, với một việc nhất định phải làm. Trong khoảng thời gian giữa các kỳ đại hội, cơ quan quyền lực tối cao được trao cho Ban Chấp hành Trung ương do đại hội bầu ra. Ban Chấp hành Trung ương thực hiện đồng thời các chức năng lập pháp và hành pháp; có nghĩa là, nó không chỉ thông qua luật, mà còn tiến hành các công việc công cộng. Các ban của nó được gọi là Ủy ban nhân dân, và các thành viên của nó làm việc trong các ủy ban này. Như vậy Ban Chấp hành Trung ương là một ban công tác thực sự.

Giống như Ban Chấp hành Trung ương, các cơ quan khác của Xô Viết được thống nhất chặt chẽ và dựa trên một loạt các tổ chức của quần chúng lao động. Các thể chế của Liên Xô dựa trên Đảng Cộng sản, công đoàn, ủy ban nhà máy và hợp tác xã. Các tổ chức này bao gồm hàng triệu công nhân, tất cả đều kết hợp để hỗ trợ chính quyền  Xô Viết. Thông qua công cụ của các tổ chức này, quần chúng lao động khổ sai tham gia tích cực vào công tác quản lý Nhà nước. Đảng Cộng sản và các tổ chức công đoàn chỉ định những thành viên thân tín nhất của mình để đảm nhiệm tất cả các chức vụ và thực hiện mọi chức năng. Bằng cách này, những người tốt nhất trong số những người lao động được ủy quyền, không chỉ để nói chuyện, mà thực sự là quản lý. Trong cái gọi là nước cộng hòa dân chủ, không có điều gì kiểu này xảy ra. Ở đó, đại cử tri của tầng lớp lao động bỏ lá phiếu của mình vào thùng, và sau đó phần của anh ta trong cuộc tình kết thúc. Giai cấp tư sản đảm bảo với anh ta rằng anh ta đã hoàn thành ‘nghĩa vụ của một công dân’; bản thân anh ta không cần rắc rối về các công việc của Nhà nước.

Những sắp xếp này che giấu một trong những gian lận cơ bản của hệ thống chính quyền tư sản. Gian lận có cùng bản chất như những gì đã giải thích trước đây. Trên giấy tờ, có vẻ như các công nhân đang ‘tham gia’ theo một cách nào đó. Trên thực tế, chúng hoàn toàn nằm ngoài các vấn đề hiện tại. Mọi thứ được quản lý và tất cả công việc được thực hiện bởi một tầng lớp quan chức tư sản đặc biệt, hoàn toàn khác biệt với quần chúng, và cấu thành cái gọi là bộ máy quan liêu. Bộ máy hành chính nằm xa tầm với của quần chúng nhân dân; quần chúng không hề có liên hệ gì với nó.

Cho đến thế kỷ XVI hoặc XVII, các quan chức Nhà nước chỉ được tuyển chọn từ giới quý tộc. Trong quá trình thay đổi hệ thống tư bản chủ nghĩa, một chế độ quan liêu chuyên nghiệp đã ra đời. Trong những năm gần đây, khu vực quan liêu chuyên nghiệp này đã tuyển dụng chủ yếu từ giới trí thức hoặc các tầng lớp chuyên nghiệp, nhưng các chức vụ cao hơn đã được lấp đầy bởi các thành viên của giai cấp tư sản giàu có hơn. Tuy nhiên, ngay cả những quan chức cấp thấp hơn cũng được huấn luyện với tinh thần tận tụy đối với Nhà nước kẻ cướp; những người tài năng hơn trong số họ mong muốn được thăng cấp, lên chức vụ và chức danh, trở thành một ‘nghề nghiệp chính thức’. Kết quả là hầu hết các quý ông này đều tỏ thái độ khinh thường sâu sắc đối với ‘những người bình thường’. Các kích thước và sự phát triển của phạm vi chính thức này có thể được học từ các số liệu sau đây, được lấy từ cuốn sách Sự quan liêu của Olshevsky. Ở Áo, vào năm 1874, họ đánh số bằng các con số tròn 27.000; năm 1891, con số 16.000; vào năm 1900, con số là 169.000. Ở Pháp, số lượng quan chức vào năm 1891 là 1.500.000 người, chiếm khoảng 4% dân số. Ở Anh, trong cùng năm đó, có khoảng 1.000.000 quan chức [công chức], con số này chiếm khoảng 2-6 phần trăm dân số. Ở Hoa Kỳ, vào năm 1890, có 750.000 quan chức. Olshevsky, bản thân là một nhà tư sản, nói với chúng ta rằng bộ máy quan liêu được đặc trưng bởi những đặc điểm sau: chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa đỏ, cách cư xử hống hách, nhỏ nhen. Ở tất cả các nước tư bản, công việc hành chính thực sự nằm trong tay một cơ quan chính thức của nhân vật này. Chúng ta phải nhắc lại rằng các quan chức cao nhất chủ yếu được tuyển chọn từ giai cấp tư sản giàu có hơn, và từ các giới quý tộc và địa chủ lớn. Đây là điều không thể tránh khỏi trong xã hội tư bản, nơi mà giai cấp tư sản cai trị.

Ở Cộng hòa Xô Viết, quần chúng không chỉ bầu cử (bầu không phải luật sư tĩnh mà là dân gian của họ), mà họ tham gia vào công việc hành chính, vì các Xô viết và các tổ chức khác của quần chúng lao động thực sự tham gia vào công việc hành chính.

Đối với các Xô viết, các cuộc bầu cử có tính chất như vậy sẽ giữ được mối liên hệ chặt chẽ giữa các cơ quan này và quần chúng. Đối với các cuộc bầu cử vào các Xô viết không phải là lãnh thổ theo nghĩa dân cư, mà dựa trên địa điểm mà mọi người làm việc (nhà máy, xưởng, v.v.); chúng được dựa trên, như cụm từ chạy, dựa trên ‘các đơn vị sản xuất’. Những người đoàn kết trong cuộc sống lao động của họ được bầu chọn trong số họ, với tư cách là đại biểu của họ, những người mà họ có niềm tin lớn nhất.

Do đó, cường quốc Xô Viết nhận ra một hình thức cực kỳ cao hơn, một hình thức thực sự phổ biến hơn nhiều, của nền dân chủ – nền dân chủ vô sản.

Vậy thì nhiệm vụ xa hơn của đảng chúng ta là gì? Con đường chung của chúng tôi là rõ ràng. Đảng ta phải thực hiện dân chủ vô sản ở mức độ lớn hơn và lớn hơn bao giờ hết; tạo ra mối liên hệ ngày càng chặt chẽ giữa các đại biểu hoặc những người được bầu cử (những người được cử thực hiện các nhiệm vụ khác nhau) và quần chúng; khuyến khích người lao động tham gia ngày càng có hiệu quả vào công việc điều hành; cuối cùng, để đảm bảo rằng hàng triệu con mắt sẽ theo dõi các đại biểu và kiểm soát công việc của họ. Tất cả mọi thứ có thể phải được thực hiện để thấy rằng tất cả những người được giao quyền sẽ phải chịu trách nhiệm và thường xuyên được yêu cầu giải trình.

Việc thực hiện những nhiệm vụ này là một công việc lớn. Có rất nhiều trở ngại cần phải vượt qua. Các chướng ngại vật phải được vượt qua. Chúng ta phải đạt được sự thống nhất đầy đủ và không thể tách rời của ba yếu tố: Bộ máy Nhà nước; quần chúng tích cực của giai cấp vô sản, những người xây dựng chủ nghĩa cộng sản; và những người nông dân nghèo.

§ 52. Quân đội và Chính quyền Xô-viết

Nền dân chủ vô sản, giống như mọi chính quyền khác, có lực lượng vũ trang – quân đội và hải quân. Trong Nhà nước dân chủ tư sản, quân đội được sử dụng để trấn áp công nhân và bảo vệ túi tiền của các nhà tư bản. Quân đội vô sản, Hồng quân của Cộng hòa Xô viết, được sử dụng cho các mục đích về giai cấp của giai cấp vô sản và cho cuộc đấu tranh chống lại giai cấp tư sản. Do đó, về điều kiện phục vụ và quyền chính trị, có sự khác biệt rất lớn giữa quân đội tư sản và quân đội vô sản. Giai cấp tư sản thấy rằng việc giả vờ rằng quân đội của họ ‘phi chính trị’ là điều nên làm. Trên thực tế, họ sử dụng quân đội như một phương tiện để thúc đẩy chính sách trấn áp và phản cách mạng của mình dưới ngọn cờ bảo vệ ‘lợi ích quốc gia’. Họ làm mọi thứ trong khả năng của mình để gieo rắc sự chia rẽ giữa quân đội và nhân dân. Bởi hàng nghìn thủ đoạn gian trá, họ tước đi khả năng sử dụng các quyền chính trị của binh lính. Mọi thứ rất khác ở Cộng hòa Xô viết. Ngay từ đầu, giai cấp vô sản đã thẳng thắn tuyên bố rằng Hồng quân là một công cụ để sử dụng trong cuộc đấu tranh giai cấp chính trị chống lại giai cấp tư sản. Tiếp sau đó; chính quyền Xô Viết sử dụng mọi cách có thể để mang lại sự đoàn kết mật thiết giữa quân đội và nhân dân. Những người lao động được đoàn kết trong các Xô viết với những người lính Hồng quân; những Xô viết này được gọi là ‘Xô viết của công nhân’ và ‘Xô viết’ của binh lính. Công nhân và binh lính học chung trường, cùng tham gia các lớp học, họ hòa mình vào các buổi mít tinh công cộng; họ kề vai trong các cuộc biểu tình. Tổng kết lại, công nhân đã tin tưởng giao ngọn cờ chiến đấu cho các chiến sĩ Hồng quân; và một lần nữa những người lính đã giao phó lá cờ cho những người thợ. Ở Nhà nước Xô Viết, không gì khác là một nước cộng hòa vĩ đại của những người lao động, thành công trong cuộc chiến chống kẻ thù của chúng ta chỉ có thể đạt được khi có sự đoàn kết bất diệt giữa Hồng quân và giai cấp công nhân cách mạng.

Tình đoàn kết của giai cấp công nhân với quân đội và quân đội với giai cấp công nhân càng bền thì sức đấu tranh cách mạng của chúng ta càng mạnh mẽ. Rõ ràng, khi đó, Đảng ta phải duy trì, phát triển và củng cố sự đoàn kết này. Kinh nghiệm cho thấy rằng sự liên kết mật thiết giữa các tổ chức vô sản đã ảnh hưởng đáng kể đến quân đội. Chúng ta chỉ cần nhớ lại cuộc kháng chiến với Kolchak vào mùa hè năm 1919 và với Denikin vào mùa thu cùng năm. Những chiến thắng này đã không thể đạt được nếu quân đội không được hỗ trợ bởi những người lao động từ đảng, từ các tổ chức công đoàn, v.v., . Vì lý do này, trên thực tế chứ không phải giấy bút, Hồng quân của giai cấp vô sản là quân đội nhân dân đầu tiên, đội quân đầu tiên được tạo ra bởi ý chí của công nhân, do công nhân tổ chức, đoàn kết với họ, không thể tách rời với họ, và, thông qua các đại diện của mình trong các Xô viết, tham gia vào việc điều hành đất nước. Hồng quân không phải là một cái gì đó khác biệt với dân chúng; nó bao gồm giai cấp công nhân và nông dân nghèo; và nó bước đều dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Bộ đội sống gắn bó mật thiết nhất với những người lao động ở hậu phương. Đảng ta có nhiệm vụ tuyệt đối không mệt mỏi trong nỗ lực củng cố sự thống nhất này.

§ 53. Vai trò lãnh đạo của giai cấp vô sản

Trong cuộc cách mạng của chúng ta, một cuộc cách mạng cộng sản, vai trò dẫn dắt, vai trò lãnh đạo, được giao phó cho giai cấp vô sản. Giai cấp vô sản là giai cấp đoàn kết nhất và có tổ chức tốt nhất. Giai cấp vô sản là giai cấp duy nhất có điều kiện sống trong xã hội tư bản để tiếp thu các chính kiến cộng sản đúng đắn; những điều kiện này đứng riêng đã cho thấy mục tiêu thực sự và cách thức đúng đắn để đạt được mục tiêu đó. Đương nhiên, do đó, giai cấp vô sản đã lãnh đạo đạo quân tiên phong trong cuộc cách mạng này. Nông dân (nông dân trung lưu và thậm chí một số nông dân nghèo) không kiên định. Họ chỉ thành công khi hợp lực với giai cấp vô sản. Ngược lại, bất cứ khi nào nông dân đi theo một đường lối khác với những người vô sản, họ chắc chắn sẽ bị nô dịch hóa bởi Denikin, Kolchak, hoặc một số đại diện khác của địa chủ, tư bản hoặc giai cấp quân nhân.

Vai trò hàng đầu này, sứ mệnh dẫn dắt này của giai cấp vô sản, được thể hiện trong hiến pháp Xô Viết. Luật pháp của chúng tôi dành cho giai cấp vô sản những quyền chính trị ưu đãi nhất định. Ví dụ, sự sắp xếp bầu cử của các Đại hội Xô viết có tính chất như vậy, tỷ lệ thuận với số lượng của họ, công nhân thành thị có nhiều đại biểu hơn nông dân.

Dưới đây là một số điều có liên quan của hiến pháp.

‘Đại hội Xô viết toàn Nga bao gồm đại diện của các Xô viết thị trấn, được quyền cử một đại biểu cho mỗi 25.000 đại cử tri, và đại diện của các Xô viết cấp tỉnh, được cử một đại biểu cho mỗi 125.000 cư dân.’ (Phần III, Chương 5, Điều 25.)

‘Đại hội Xô viết bao gồm: (a) Đại hội khu vực, bao gồm đại diện của các Xô viết thị trấn và từ các Đại hội Xô viết của hạt, với tỷ lệ một đại biểu cho 25.000 cư dân, và từ các thị trấn với tỷ lệ một đại biểu là 5.000 đại cử tri, với điều kiện không được quá 500 đại biểu cho toàn Vùng – hoặc bao gồm các đại biểu tham dự Đại hội Xô viết cấp tỉnh, được bầu trên cơ sở tương tự khi Đại hội tỉnh họp ngay trước Đại hội Xô viết khu vực. (b) Đại hội cấp tỉnh bao gồm đại diện của các Xô viết thị trấn và Đại hội của các huyện Xô viết nông thôn, với tỷ lệ một đại biểu cho 10.000 dân, và từ các thị trấn với tỷ lệ một đại biểu đến 2.000 đại cử tri, với điều kiện là có không quá 300 đại biểu cho toàn tỉnh – nhưng khi Đại hội Xô viết cấp hạt diễn ra ngay trước Đại hội Xô viết cấp tỉnh, các cuộc bầu cử sẽ được tổ chức theo cách của, không phải Đại hội Xô viết cấp huyện, mà của Đại hội Xô viết cấp hạt. ‘ (Phần III, Chương 10, Điều 53.)

Ở các thị trấn, như ta thấy, các đại biểu được bầu tỷ lệ thuận với số cử tri, nhưng ở các làng, lại tỷ lệ thuận với số dân (những người này không chỉ bao gồm những người lao động theo nghĩa đen, mà còn có nông dân giàu có, tăng lữ, giai cấp tư sản nông thôn, v.v., cũng như trẻ em, những người không có quyền bầu cử). Do đó, sự ưu tiên dành cho công nhân thành thị so với nông dân ít hơn so với cái nhìn đầu tiên. Nhưng việc đối xử ưu đãi là rõ ràng.

Những đặc quyền được hiến định cụ thể này chỉ nói thay cho những gì thực sự tồn tại, cụ thể là giai cấp vô sản thành thị được tổ chức vững chắc sẽ lãnh đạo quần chúng nông thôn vô tổ chức.

Nhiệm vụ đầu tiên của Đảng Cộng sản là làm tất cả những gì có thể để làm rõ rằng những đặc quyền này chỉ là tạm thời. Khi mà các tầng lớp dân cư lạc hậu của đất nước trở nên giác ngộ hơn, và khi kinh nghiệm thuyết phục họ rằng các biện pháp mà công nhân áp dụng là đúng đắn và có lợi, khi họ nhận ra rằng họ không được hợp tác với giai cấp tư sản mà chỉ với giai cấp vô sản, rõ ràng sự bất bình đẳng tạm thời được quy định sẽ không còn tồn tại.

Đảng Cộng sản phải tận dụng những đặc quyền của giai cấp vô sản để tác động các huyện nông thôn, nhằm liên kết những người lao động cấp tiến hơn với nông dân. Phải như vậy thì việc giác ngộ cách mạng của bần cố nông mới thành công. Vị trí đặc quyền của người vô sản không được trao cho họ để họ tách riêng ra hoặc tách biệt với cư dân ở nông thôn, mà để họ có thể tận dụng tốt điều đó, để họ ảnh hưởng lớn hơn trong Xô Viết và chính quyền, để họ đưa giai cấp công nhân tiếp xúc gần gũi hơn với đời sống làng xã, để họ có thể bắt đầu và duy trì sự liên minh đồng chí của giai cấp vô sản với nông dân trung lưu và nông dân nghèo. Do đó, công nhân sẽ có thể giải phóng nông dân khỏi ảnh hưởng của nông dân giàu có, tăng lữ, địa chủ, v.v.

§ 54. Bộ máy quan liêu và chính quyền Xô Viết

Nhà nước Xô Viết đã được thành lập, với tư cách là đại diện quyền lực của một giai cấp mới –  giai cấp vô sản, trên nền tàn tích của quyền lực tư sản cũ. Trước khi giai cấp vô sản có thể tổ chức được cho chính mình một chính quyền, họ phải triệt tiêu sức mạnh kẻ thù trước tiên. Với sự trợ giúp của cường quốc Xô Viết, giai cấp vô sản đã dành lấy và phá hủy các dấu tích của Nhà nước tư sản cũ.

Giai cấp vô sản giải giới lực lượng cảnh sát của chế độ cũ, xóa bỏ tàn tích của cơ quan mật vụ, xóa bỏ hiến binh và các tòa án tư sản của Nga hoàng cùng với những tên tay sai của chế độ; Giai cấp vô sản quét sạch những thể chế cũ, tiêu diệt các bộ nhà nước tư sản cùng với đám quan chức, v.v … Mục đích của những điều này là gì? Và nhiệm vụ chung của đảng ta hiện nay là gì? Chúng tôi đã đề cập đến vấn đề đã có trong Phần Một của tác phẩm.

Nhiệm vụ là thay thế chế độ quan chức cũ bằng của quần chúng nhân dân, để đưa nó vào trạng thái mà tất cả người lao động có thể cùng tham gia vào công cuộc quản lý đất nước. Làm một số chức vụ theo nhiệm kỳ ngắn hạn và một số chức vụ khác theo nhiệm kỳ dài hạn. Nhưng chúng ta đã gặp phải những khó khăn nghiêm trọng. Đó là những trở ngại sau.

Trước hết là sự phát triển không hoàn hảo, thiếu khai sáng, rụt rè, lạc hậu của các tầng lớp dân cư thành thị và nhiều hơn cả là dân cư nông thôn. Chỉ có Đội tiên phong, bao gồm những con người sắt đá, những người tích cực về thể chất và tinh thần, của những người được cung cấp thông tin đầy đủ, tạo thành một giai tầng tương đối mỏng.

Phần còn lại vẫn còn rất chậm tiến. Nhiều người vẫn e ngại khi đặt tay vào cái cày; rất nhiều người nữa thiếu hiểu biết về quyền lợi của mình, chưa nhận ra mình là người làm chủ đất nước. Điều này không có gì khó hiểu. Quần chúng đã bị áp bức và nô lệ trong nhiều thế kỷ; họ khó thể nào mà chỉ trong một sớm một chiều từ tình trạng u mê mà có thể vươn lên điều hành đất nước ngay được.

Những người tiên phong là những người thuộc lớp phát triển cao nhất; có thể lấy ví dụ về những đồng chí công nhân ở Petrograd. Chúng ta thấy họ ở khắp mọi nơi. Họ là chính ủy quân đội, là người tổ chức sản xuất, là đại biểu ban chấp hành ở các huyện, là tuyên truyền viên, là thành viên của Xô Viết tối cao, là giáo viên. Từ đó, ngay cả quần chúng lạc hậu cũng đã tiến bước; họ vứt bỏ những di chứng của chế độ cũ sang một bên; họ tiếp thu cái mới; từng chút một họ tự học hỏi, tìm tòi. Tuy vậy, một điều rõ ràng phải thừa nhận rằng, trình độ văn hóa chung thấp là một cản trở lớn cho sự tiến bộ.

Thứ hai, chúng ta thiếu kinh nghiệm trong quản lý, kể cả với những đồng chí ưu tú nhất. Lần đầu tiên giai cấp công nhân nắm chính quyền về tay mình. Trước đó, giai cấp công nhân chưa từng đảm nhiệm việc hành chính, và cũng không ai dạy họ cách làm điều tương tự. Ngược lại, trong nhiều thập kỷ trong thời kỳ Nga hoàng, và cả trong thời kỳ ngắn ngủi của chính quyền Guchkov-Kerensky, mọi thứ đã được thực hiện để ngăn giai cấp vô sản có được kinh nghiệm như vậy. Cả Nhà nước tư sản và Nhà nước phong kiến ​​đều là những tổ chức để giam giữ người lao động, không phải là những nơi để giáo dục họ. Do đó, đương nhiên, những người lao động, khi đã lên nắm quyền, sẽ mắc nhiều sai lầm trong khi rút kinh nghiệm cho bản thân mình. Họ học được những sai lầm, những sai lầm khó tránh..

Thứ ba, chúng ta vấp phải sự chống đối của đám chuyên gia tư sản. Giai cấp vô sản buộc phải cho phép nhiều người được tại vị để duy trì công việc. Giai cấp vô sản khiến họ phục tùng, cho họ làm việc, kiềm chế sự phá hoại của họ. Cuối cùng họ đã được chuyển hoá thành. Nhưng đám chuyên gia tư sản này đã quen với tư tưởng cổ hủ của chúng. Chúng khinh thường quần chúng, không muốn hòa đồng với họ một cách bình đẳng; chúng bám vào thói quan liêu cũ kỹ và xấu xa; chúng trì trệ, ì ạch; và đó là những tấm gương xấu có thể khiến chúng ta tha hoá..

Thứ tư, ta đã phân bổ những nguồn lực tốt nhất cho quân đội. Trong những giai đoạn quan trọng nhất của cuộc nội chiến, khi quân đội đang cần gấp những chiến sĩ đáng tin cậy và can đảm nhất. Do vậy, ta buộc phải điều động những con người ưu tú nhất ra mặt trận. Do đó, ở phía sau chỉ còn lại một lượng khiêm tốn những người ưu tú nhất trong hàng ngũ giai cấp lao động.

Tất cả những nguyên nhân trên này khiến công việc của chúng ta trở nên vô cùng khó khăn, và ở một mức độ nhất định đã gây ra nguy cơ khiến bọn quan liêu xuất hiện trở lại trong chính quyền Xô Viết. Đây là một mối đe dọa lớn đối với giai cấp vô sản. Các công nhân đã không phá hủy chế độ cũ để mà chúng phát triển trở lại từ những gốc rễ mới. Do đó, đảng ta phải làm hết sức mình để ngăn chặn nguy cơ này. Điều chỉ có thể được thực hiện với sự tham dự của nhân dân vào hệ thống hành chính. Tất nhiên, vấn đề cơ bản là phải nâng cao trình độ văn hoá chung của công nhân và nông dân, xóa nạn mù chữ, khơi dậy sự giác ngộ. Ngoài ra, một loạt các biện pháp nữa cũng được áp dụng. Trong số này, đảng ta chủ trương như sau.

Điều tất yếu là mọi thành viên của một xô viết (cơ quan đại biểu) đều phải đóng một vai trò nhất định trong công tác quản lý Nhà nước. Công dân Liên Xô có trách nhiệm không chỉ đơn thuần là đưa ra ý kiến ​​về những vấn đề cần thảo luận, mà còn tự mình tham gia vào nhiệm vụ chung, với tư cách cá nhân của mình để lấp đầy một số chức vụ xã hội.

Điều cần thiết tiếp theo là cần có sự luân chuyển liên tục trong bộ máy. Điều này có nghĩa là các đồng chí sau một thời gian nhất định phải chuyển từ công việc này sang công việc khác để có kinh nghiệm trong tất cả các ngành quan trọng của công tác hành chính. Một đồng chí không được phép ở một vị trí trong quá nhiều năm, vì nếu như vậy, anh ta sẽ trở thành một quan chức quan liêu. Ngay sau khi anh ta đã học được những việc phải làm cho một chức vụ, anh ta phải chuyển sang văn phòng khác.

Cuối cùng, đảng ta đã khuyến nghị, trong một mức độ nào đó, với những công việc tập thể, nhân dân lao động sẽ được khuyến khích tham gia vào quản lý nhà nước, theo mức độ nào đó, toàn bộ nhân dân lao động sẽ được khuyến khích tham gia vào cơ quan hành chính Nhà nước. Trên thực tế, đây là nền tảng thực sự của hệ thống chính trị của chúng ta. Một số bước theo hướng này đã được thực hiện. Ví dụ, tham gia vào cuộc khám xét các căn nhà của tư sản Petrograd, từng nhà một.

Lại nữa, gần như toàn bộ nhân dân lao động của Petrograd đã tham gia vào công việc bảo vệ thành phố. Lại nữa, do đàn ông phải chuyển sang những nhiệm vụ khác, chị em công nhân đã tham gia vào nghĩa vụ dân quân. Trong các uỷ ban chấp nhận đào tạo những người không phải thanh viên (của uỷ ban) làm công việc trợ lý. Về sơ bộ, họ có thể học được công việc của cấp ủy và các cấp ủy chi bộ. Điều tương tự cũng có thể được thực hiện trong các ủy ban của nhà máy và trong các tổ chức công đoàn, nơi tất cả các thành viên có thể lần lượt đảm nhiệm công việc. Nói một cách nôm na, bằng cách này hay cách khác (với kinh nghiệm là những bài học tốt nhất), ta phải theo bước chân của Công xã Pa-ri, phải đơn giản hóa công việc hành chính, thu hút quần chúng tham gia, chấm dứt hoàn toàn tệ quan liêu.

Sự tham gia này của quần chúng càng rộng rãi thì nhà nước chuyên chính vô sản càng sớm tàn lụi. Ngay khi tất cả những thành viên trưởng thành, tinh anh trong dân chúng, không có ngoại lệ, đều tham gia vào việc điều hành, những dấu tích cuối cùng của chế độ quan liêu sẽ biến mất. Đồng thời với sự biến mất của những kẻ chống đối tư sản của chúng ta, chúng ta sẽ có thể ăn mừng ngày cáo chung của Nhà nước. Nhà nước sẽ được thay thế bằng việc quản trị của tập thể – quản lý máy móc, tòa nhà, đầu máy xe lửa và các bộ máy khác. Trật tự xã hội cộng sản sẽ được thiết lập đầy đủ.

Sự tàn lụi của Nhà nước sẽ diễn ra nhanh chóng hơn rất nhiều khi chúng ta giành được thắng lợi hoàn toàn trước bọn đế quốc. Ngày nay, khi một cuộc nội chiến khốc liệt vẫn đang diễn ra, tất cả các cơ quan của chúng ta phải ở trong tình trạng chiến tranh. Các công cụ của chính quyền Xô Viết đã phải xây dựng dựa trên các đường lối quân sự. Trên thực tế, ta thường không có đủ thời gian để triệu tập các Xô viết, và theo quy định, các ủy ban điều hành phải quyết định mọi thứ.

Tình trạng này là do tình hình chiến sự của cuộc nội chiến. Thể chế hiện tại ở Nga không chỉ đơn giản là chế độ chuyên chính vô sản; nó là một chế độ quân phiệt- chuyên chính vô sản, Nước cộng hòa là một trại vũ trang. Rõ ràng là các điều kiện được mô tả ở trên sẽ chưa thể thành hiện thực trong khi nhu cầu quân sự hóa tất cả các tổ chức của chúng ta vẫn còn.


Mục lục

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments