Nhu nhược – Theodor W. Adorno

Nhu nhược
Theodor W. Adorno

Theodor W. Adorno (1903–1969) là triết gia, nhà xã hội học và lý thuyết gia phê phán người Đức, gắn liền với Trường phái Frankfurt. Ông là một trong những tư tưởng gia có ảnh hưởng sâu rộng nhất thế kỷ 20, nổi tiếng với những phê phán sắc bén về văn hóa đại chúng, chủ nghĩa tư bản và các hình thái áp bức hiện đại. Những tác phẩm tiêu biểu như Biện chứng của Khai sáng (viết cùng Max Horkheimer) và Biện chứng phủ định đã đặt nền móng cho lý thuyết phê phán hiện đại, góp phần định hình tư duy triết học, xã hội học và nghệ thuật đương đại.

Bài viết này được trích từ tác phẩm có tiêu đề “Resignation” trong Critical Models (Columbia University Press), tr. 289 – 293.

——————–

Là những đại diện lớn tuổi hơn của cái ngày nay được gọi là Trường phái Frankfurt, gần đây chúng tôi đã đối mặt với những cáo buộc về sự nhu nhược. Các nhà phê bình cho rằng, mặc dù chúng tôi đã phát triển một số yếu tố của lý thuyết phê phán xã hội, nhưng chúng tôi lại không sẵn lòng rút ra những kết luận mang tính thực tiễn từ đó. Do vậy, chúng tôi không đưa ra các chương trình hành động cụ thể, cũng không ủng hộ những người được truyền cảm hứng từ lý thuyết phê phán.

Tôi sẽ không bàn đến việc liệu có thể đặt ra những yêu cầu như vậy đối với những nhà tư tưởng lý thuyết hay không, những người vốn không miễn nhiễm với ảnh hưởng của môi trường xung quanh. Vai trò mà họ đảm nhận trong một xã hội dựa trên sự phân công lao động có thể là điều đáng chất vấn; và họ thực sự có thể bị định hình bởi chính xã hội đó. Dù họ không thể đơn giản phủ nhận những gì mình đã trở thành, tôi cũng không muốn gạt bỏ yếu tố yếu đuối mang tính chủ quan gắn liền với sự tập trung hẹp vào lý thuyết.

Phê phán mang tính khách quan thường theo lập luận như sau: một người nghi ngờ khả năng thay đổi triệt để xã hội và vì thế không tham gia vào những hành động kịch tính, bạo lực — hoặc không kêu gọi chúng — là người đã trở nên nhu nhược. Người này tin rằng điều mình hình dung không thể thành hiện thực; thậm chí có thể họ cũng không thực sự mong muốn điều đó xảy ra. Bằng cách không thách thức các điều kiện hiện tại, họ vô tình chấp thuận chúng.

Việc giữ khoảng cách với thực tiễn thường bị nhìn nhận tiêu cực. Bất kỳ ai không sẵn sàng thực sự dấn thân đều bị xem là đáng ngờ, như thể sự trốn tránh này không chính đáng và chỉ bắt nguồn từ đặc quyền.. Sự ngờ vực đối với những người đặt câu hỏi về thực tiễn lan rộng từ các nhà phê bình — những người lặp lại khẩu hiệu cũ “nói ít thôi, làm nhiều đi” — cho đến tinh thần của quảng cáo, vốn cổ xúy hình ảnh của “con người năng động, thực tiễn,” dù là lãnh đạo công nghiệp hay vận động viên. Những ai chỉ biết suy nghĩ thường bị xem là yếu đuối, hèn nhát, không khác gì kẻ phản bội. Khuôn mẫu thù địch về “trí thức” len lỏi vào cả chính nhóm đối lập này, thường mà họ không nhận ra, và rồi chính họ lại bị tố cáo là những trí thức.

Những nhà tư tưởng thiên về hành động phản biện rằng một trong những thay đổi cần thiết chính là xoá bỏ sự tách biệt hiện nay giữa lý thuyết và thực tiễn. Họ lập luận rằng thực tiễn là điều thiết yếu để xóa bỏ sự thống trị của những người thực dụng và lý tưởng thực dụng. Tuy nhiên, quan điểm này rất dễ dẫn đến một sự cấm đoán đối với tư duy. Chỉ một nỗ lực tối thiểu cũng có thể lật ngược sự phản kháng áp bức này lên những người mà, dù chỉ dành chút ít nỗ lực để ca ngợi sự tồn tại cá nhân của mình, cũng không rũ bỏ bản chất mới của mình. Việc kêu gọi sự thống nhất giữa lý thuyết và thực tiễn thường trở thành một sự đề cao quá mức thực tiễn.

Nhiều phong trào lên án lý thuyết như một hình thức đàn áp, như thể thực tiễn không liên hệ trực tiếp hơn với đàn áp. Trong Marx, học thuyết về sự thống nhất này được truyền cảm hứng từ khả năng hành động thực sự, điều mà ngay cả khi đó cũng chưa từng được hiện thực hóa đầy đủ. Ngày nay, tình hình dường như ngược lại; con người bám lấy hành động chính vì họ không thể hành động. Phải thừa nhận rằng ngay cả trong tác phẩm của Marx, cũng có một vết thương. Ông có thể đã tuyên bố mạnh mẽ về luận đề thứ mười một về Feuerbach là vì ông không hoàn toàn tin tưởng vào nó. Khi còn trẻ, ông đã kêu gọi “phê phán không khoan nhượng mọi thứ hiện tồn”, nhưng sau này lại chế giễu chính sự phê phán đó. Nhưng câu châm biếm nổi tiếng của ông nhắm vào các nhà Hegel trẻ — cụm từ “phê phán phê phán” — lại là một thất bại, không khác gì sự lặp lại vô nghĩa.

Việc cưỡng ép đặt thực tiễn lên hàng đầu một cách phi lý đã chặn đứng chính sự phê phán mà Marx từng thực hành. Ở Nga và trong hệ tư tưởng chính thống tại các quốc gia khác, sự khinh miệt đối với “phê phán phê phán” đã trở thành công cụ để củng cố những điều kiện hiện tồn. Trong bối cảnh đó, thực tiễn chỉ còn có nghĩa là gia tăng sản xuất, còn phê phán thì chỉ được dung thứ khi nó tấn công quan điểm rằng con người chưa làm việc đủ chăm chỉ. Như vậy, sự lệ thuộc của lý thuyết vào thực tiễn rất dễ bị đảo ngược thành một sự phục tùng cho những hình thức áp bức mới.

Sự bất khoan dung mang tính đàn áp đối với tư tưởng không đi kèm ngay với chỉ dẫn hành động thực chất xuất phát từ nỗi bất an. Người ta phải sợ hãi, bởi vì sâu trong thâm tâm, họ biết nhưng không thể thừa nhận rằng tư tưởng đó là đúng. Một cơ chế từng rất quen thuộc với các nhà Khai sáng thế kỷ mười tám lại đang hoạt động mà không hề thay đổi: nỗi thống khổ bắt nguồn từ một tình trạng tiêu cực—lần này là thực tại bị bế tắc—trở thành cơn giận dữ trút lên kẻ dám cất tiếng nói về nó. Theo Habermas, suy tư, tức sự khai sáng ý thức về chính nó, đe dọa làm tan biến cõi giả thực tại đang chứa chấp chủ nghĩa hành động. Chủ nghĩa hành động được dung thứ chỉ vì nó được coi là một phần của giả thực tại. Giả thực tại gắn liền, như một thái độ chủ quan, với hoạt động giả: hành động phóng đại và tự làm trầm trọng chính mình nhằm mục đích tự quảng bá, mà không chịu thừa nhận rằng nó đang đóng vai trò như một sự thỏa mãn thay thế, tự nâng mình lên thành mục đích tự thân. Những con người bị giam hãm muốn thoát ra một cách tuyệt vọng. Trong những tình thế như vậy, người ta không còn tư duy nữa, hoặc nếu có thì cũng chỉ dựa trên những giả định hư cấu. Trong một thực tiễn bị tuyệt đối hóa thì chỉ còn có thể tồn tại phản ứng, tức sai lầm. Chỉ có tư duy mới có thể tìm thấy lối ra, và hơn thế nữa, một tư duy mà kết quả của nó không bị định đoạt trước, như thường thấy trong những cuộc tranh luận mà ở đó người thắng lý đã được định sẵn, tức những cuộc tranh luận không thúc đẩy lý tưởng, mà tất yếu thoái hóa thành chiến thuật. Nếu các cánh cửa đều bị chặn lại, thì tư duy hơn bao giờ hết không được phép dừng bước. Nó phải phân tích các nguyên nhân, rồi từ đó rút ra kết luận. Tư duy có trách nhiệm không chấp nhận hoàn cảnh như một điều bất biến. Nếu hoàn cảnh có thể được thay đổi thông qua sự nhận thức không giảm sút. Cú nhảy vào thực tiễn không thể chữa trị sự nhu nhược của tư duy nếu cái giá phải trả là sự thừa nhận âm thầm rằng con đường ấy thực ra không đúng.

Hoạt động giả nói chung là nỗ lực nhằm cứu lấy những bong bóng của tính trực tiếp giữa một xã hội đã bị trung giới hóa và đông cứng hoàn toàn. Những nỗ lực như vậy thường được biện minh bằng tuyên bố rằng thay đổi nhỏ là một bước trong con đường dài hướng tới sự biến đổi toàn thể. Hình mẫu tai hại nhất của hoạt động giả là khẩu hiệu “Hãy tự làm lấy” (mach es selber): những hoạt động tái tạo những việc từ lâu đã được thực hiện tốt hơn bởi sản xuất công nghiệp, chỉ để gieo vào những cá nhân không tự do, những người tê liệt trong tính tự phát của họ, niềm tin rằng mọi thứ đều phụ thuộc vào chính họ. Tính vô lý của việc “tự làm” trong sản xuất vật chất, thậm chí trong nhiều công việc sửa chữa, là điều quá hiển nhiên. Dẫu vậy, sự vô lý ấy không hoàn toàn tuyệt đối. Khi các “dịch vụ” (dienstleistungen) bị cắt giảm, đôi khi những hành động do cá nhân tự thực hiện, dù thừa thãi với trình độ công nghệ hiện có, vẫn có thể phục vụ một mục đích mang tính hợp lý giả định. Nhưng cách tiếp cận “tự làm” trong chính trị lại hoàn toàn khác. Xã hội mà con người đối mặt như một khối không thể xuyên thủng thực chất chính là bản thân những con người ấy. Niềm tin vào hành động giới hạn của những nhóm nhỏ làm gợi nhớ lại tính tự phát đã bị héo úa dưới lớp vỏ cứng của toàn thể, lớp vỏ mà nếu thiếu nó thì toàn thể này không thể trở thành cái gì khác. Thế giới bị quản lý có xu hướng bóp nghẹt mọi tính tự phát, hoặc ít nhất cũng dẫn nó vào những hoạt động giả. Tuy nhiên, quá trình đó không trơn tru như những kẻ điều hành thế giới mong muốn. Song, tính tự phát cũng không nên bị tuyệt đối hóa, cũng như không nên bị tách rời khỏi hoàn cảnh khách quan hay được tôn sùng giống như cách chính thế giới bị quản lý đang được tôn sùng. Nếu không, chiếc rìu trong nhà mà chẳng bao giờ cứu được bác thợ mộc sẽ đập vỡ cánh cửa gần nhất, và đội cảnh sát chống bạo động sẽ chờ sẵn.

Ngay cả những hành động chính trị cũng có thể sa lầy vào hoạt động giả, trở thành màn kịch đơn thuần. Không phải ngẫu nhiên mà những lý tưởng của hành động trực tiếp, thậm chí cả tuyên truyền hành động, lại được hồi sinh sau khi các tổ chức từng mang tính tiến bộ sẵn sàng trở thành một phần của bộ máy và giờ đây, ở mọi quốc gia trên thế giới, đều phát triển những đặc điểm điển hình của chính cái mà họ từng chống lại. Nhưng điều đó không làm mất hiệu lực của phê phán nhắm vào chủ nghĩa vô chính phủ. Sự trở lại của nó là một bóng ma. Sự thiếu kiên nhẫn với lý thuyết, được thể hiện trong sự trở lại ấy, không đưa tư duy tiến xa hơn chính nó. Bằng cách quên đi tư duy, sự thiếu kiên nhẫn ấy quay trở lại một cấp độ còn thấp hơn cả tư duy.

Điều này trở nên dễ dàng hơn cho cá nhân nhờ sự đầu hàng của họ trước tập thể mà mình thuộc về. Họ được giải thoát khỏi việc nhận ra sự bất lực của mình; số ít trở thành số đông trong mắt họ. Hành động này, chứ không phải tư duy kiên định, mới là sự nhu nhược. Không có mối quan hệ minh bạch nào tồn tại giữa lợi ích của cái tôi và tập thể mà nó tự nguyện thuộc về. Cái tôi phải tự xóa bỏ để có thể được ban ân huệ được tập thể lựa chọn. Một mệnh lệnh tuyệt đối không mang tính Kant cho lắm đã tự dựng lên, và bạn phải đặt bút điền chữ ký mình vào. Cảm giác an toàn đã được mua bằng sự hy sinh của tư duy độc lập. Sự an ủi rằng tư duy được cải thiện trong bối cảnh hành động tập thể là một lời lừa dối: tư duy, như một công cụ đơn thuần của các hành động chính trị, teo tóp như  mọi lý tính công cụ. Vào thời điểm này, không có hình thức xã hội cao hơn nào có thể thấy được một cách cụ thể; vì lý do đó, bất cứ điều gì hành động như thể nó dễ dàng đạt được đều mang tính thụt lùi. Nhưng theo Freud, bất cứ ai thụt lùi đều chưa đạt được mục đích bản năng của mình. Về khách quan, sự thụt lùi là sự từ bỏ, ngay cả khi nó tự coi mình là điều ngược lại và ngây thơ truyền bá nguyên tắc khoái lạc.

Ngược lại, người tư duy phê phán không thỏa hiệp—người không đầu hàng ý thức của mình, cũng không để bị buộc phải hành động—mới là người thực sự không đầu hàng. Tư duy không phải là sự tái sản xuất về trí tuệ những gì đã hiện hữu. Chừng nào nó còn chưa chấm dứt, tư duy vẫn nắm giữ tiềm năng một cách vững chắc. Khía cạnh không thể thoả mãn, thái độ khước từ sự dễ dãi của tư duy đã phủ nhận sự nhu nhược. Yếu tố không tưởng trong tư duy lại càng mạnh mẽ hơn khi nó không—vì cũng là một hình thức thoái lui—vật thể hóa chính mình thành một “xã hội không tưởng,” và vì vậy, tự phá hoại khả năng hiện thực hóa của mình. Tư duy mở ra hướng vượt qua chính nó. Xét về bản chất như một hình thái của thực tiễn, tư duy gần gũi hơn với thực tiễn mang tính chuyển hóa hơn là với một hành vi ngoan ngoãn nhân danh thực tiễn.

Trước mọi nội dung cụ thể, tư duy chính là lực kháng cự—nơi mà nó đã bị tách rời sau nỗ lực rất lớn. Khái niệm nhấn mạnh về tư duy như vậy, dĩ nhiên, không được đảm bảo—không bởi các điều kiện hiện tồn, không bởi mục tiêu tương lai, cũng không bởi bất kỳ “binh đoàn” nào. Những gì đã từng được tư duy một cách thuyết phục có thể bị đàn áp, bị lãng quên, có thể biến mất. Nhưng không thể phủ nhận rằng một điều gì vẫn sống sót, vì tư duy mang trong nó yếu tố phổ quát. Điều đã từng được tư duy một cách nhất quán ắt sẽ được tư duy lại ở nơi khác, bởi những con người khác; điều này đúng với cả những tư tưởng đơn độc và bất lực nhất. Kẻ tư duy không bừng bừng cơn giận trong mọi lời phê phán; tư duy đã thăng hoa cơn giận đó. Bởi vì người tư duy không cần trút giận lên chính mình, họ cũng không muốn trút giận lên người khác. Niềm hạnh phúc lóe lên trong ánh mắt người tư duy chính là hạnh phúc của nhân loại.

Khuynh hướng phổ quát của áp bức mang tính chất đối nghịch với tư duy. Tư duy là hạnh phúc, ngay cả khi nó định nghĩa bất hạnh: bằng cách gọi tên nó. Chỉ bằng hành vi đó, hạnh phúc mới chạm tới bất hạnh phổ quát. Ai không để cho tư duy mình trở nên tê liệt thì người đó chưa hề từ bỏ.

 

Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận