ABC VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN – PHẦN 2: Tư bản và nhà nước
ABC VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
PHẦN 2
Chủ nghĩa tư bản và nhà nước
Mở đầu
Chủ nghĩa tư bản là một hệ thống dựa trên sự bất bình đẳng kinh tế. Trong hệ thống này thì một nhóm nhỏ trong xã hội nắm quyền kiểm soát các phương tiện sản xuất, trong khi phần lớn còn lại buộc phải làm việc cho họ. Sự bất bình đẳng về tài sản này kéo theo sự bất bình đẳng nghiêm trọng về thu nhập, bởi vì các nhà tư bản kiểm soát các phương tiện sản xuất, do vậy họ được hưởng phần lớn thu nhập mà doanh nghiệp tạo ra. Các nhà tư bản dựa vào quyền sở hữu tài sản để chiếm đoạt phần lớn doanh thu mà cơ sở sản xuất của họ tạo ra. Đây là một kiểu tống tiền có hệ thống. Về cơ bản, nhà tư bản nói với công nhân: “Muốn làm việc cho chúng tôi thì phải chấp nhận các điều kiện mà chúng tôi đưa ra. Muốn ăn thì lăn ra bếp.”
Về phía công nhân, họ chấp nhận thỏa thuận đó vì một công việc tồi còn hơn không có việc gì làm. Nhưng thực ra, họ phải chấp nhận nhiều hơn thế. Họ còn phải chấp nhận rằng, trong thời gian làm việc, họ sẽ phải giao nộp phần lớn quyền tự do cá nhân cho ông chủ, tức người sẽ quyết định họ làm nhanh hay chậm, ăn trưa lúc mấy giờ, được di chuyển nhiều hay ít, được nói chuyện với ai, mặc quần áo thế nào, v.v. Quyền lực kiểm soát các điều kiện làm việc cho phép nhà tư bản nắm quyền rất lớn đối với cuộc sống cơ bản của công nhân. Chính khoản đầu tư của họ quyết định sẽ có bao nhiêu việc làm được tạo ra, ai được nhận việc và ai bị loại; họ đặt ra nhịp độ công việc; họ kiểm soát ai được thăng chức và ai thì không… và chính công nhân là người phải thích nghi. Vì liên tục phải điều chỉnh cuộc sống theo các quyết định của chủ doanh nghiệp nên đời sống của công nhân thường xoay quanh một vấn đề chính — công việc. Tất cả những điều này có thể hiểu đơn giản là: trong hệ thống kinh tế hiện nay, các nhà tư bản là người quyết định điều kiện sống cho phần lớn mọi người còn lại.
Phong trào lao động hiện đại đã tìm mọi cách để giảm bớt quyền lực không bị kiểm soát của giới chủ, và tìm cách chống lại quyền lực đó. Một trong những con đường đó là thông qua nhà nước dân chủ. Vì nhà nước được cho là người bảo vệ lợi ích chung, nên nếu giới tư bản chi phối nền kinh tế, có lẽ chính phủ có thể giúp cân bằng lại bằng cách đứng về phía công nhân — thông qua việc ban hành luật để hạn chế sự lạm dụng của giới chủ, và sử dụng chính sách thuế cũng như chi tiêu để cải thiện vị thế thương lượng của người lao động. Chính vì kỳ vọng đó mà các phong trào lao động ở khắp nơi đã đấu tranh để người nghèo có quyền bầu cử. Và cũng vì lý do đó mà giới tư bản và người giàu nói chung lại chống lại việc mở rộng quyền bầu cử; cả hai phía đều hiểu rằng nếu công nhân có quyền bỏ phiếu, họ sẽ dùng sức mạnh về số lượng để bầu ra những chính trị gia sẵn sàng đánh thuế mạnh tay vào giới giàu.
Ở một số phương diện, hy vọng của người lao động đã được hiện thực hóa. Dân chủ thực sự là một lợi ích rõ ràng đối với người nghèo. Các nhà nước dân chủ bảo vệ lợi ích của người lao động nhiều hơn so với các chế độ đầu sỏ. Tuy nhiên, vẫn đúng là người nghèo không thực sự có quyền lực chính trị thực chất. Mặc dù một người như Rockefeller chỉ có một lá phiếu duy nhất giống như nhân viên của mình, và mặc dù công nhân chiếm số đông, nhưng ảnh hưởng chính trị của ông ta lại lớn hơn công nhân rất nhiều. Dù dân chủ đã phần nào kiềm chế thiên lệch giai cấp của nhà nước, định hướng cơ bản của chính sách nhà nước vẫn rõ ràng nghiêng về phía người giàu. Về căn bản, đây vẫn là nhà nước của họ. Trong thế giới công nghiệp phát triển, điều này thể hiện rõ ràng nhất ở Hoa Kỳ, và chưa bao giờ điều đó lại hiển hiện một cách trần trụi như trong thế hệ gần đây. Chúng ta đang sống trong một “Kỷ nguyên mạ vàng” mới, nơi sự tập trung tài sản khổng lồ đi kèm với sự tập trung quyền lực chính trị.
Chương này sẽ phân tích các nguồn gốc của sự thiên lệch của nhà nước. Chúng ta cần hiểu vì sao, thay vì làm đối trọng với quyền lực của tư bản, thì nhà nước lại có xu hướng củng cố nó. Chúng ta cần nhận diện các lực lượng mang tính cấu trúc đang ràng buộc nhà nước với lợi ích của giới tư bản, ngay cả khi số lượng ít ỏi của họ lẽ ra phải là một bất lợi trong hệ thống dân chủ.
Một nhà nước trung lập?
Có một quan điểm cho rằng trong một nền dân chủ tư bản, ngay cả khi nền kinh tế nằm dưới sự kiểm soát của giới tư bản, thì nhà nước không nhất thiết phải như vậy. Chính sách nhà nước được tạo ra bởi các đảng phái và chính trị gia, và các chính trị gia được bầu vào vị trí quyền lực dựa trên số phiếu họ giành được. Lá phiếu của người giàu nhất cũng không có giá trị hơn lá phiếu của người nghèo nhất. Và điều còn tốt hơn nữa là người nghèo chiếm số lượng áp đảo so với người giàu. Không chỉ điều này giúp san bằng sân chơi giữa người giàu và người nghèo, mà nó thậm chí có thể làm nghiêng cán cân về phía người nghèo, bởi vì trong một nền dân chủ thì con số mới là điều quan trọng. Một chính trị gia lý trí sẽ rất ngu ngốc nếu chỉ tìm cách lấy lòng giới tư bản, vì họ chỉ đại diện cho vài chục ngàn phiếu bầu, trong khi giai cấp công nhân chiếm hàng triệu người. Do đó, nếu một đảng chính trị thực sự muốn trở thành một thế lực, thì điều hợp lý nhất là họ nên lắng nghe nhóm lợi ích lớn nhất hiện có, và đó không phải là giới tư bản.
Lý thuyết chính trị thể hiện rõ nhất quan điểm này được gọi là chủ nghĩa đa nguyên. Chủ nghĩa đa nguyên cho rằng trong một nền dân chủ, cuộc chạy đua giành phiếu bầu sẽ vô hiệu hóa quyền lực của bất kỳ nhóm cụ thể nào trong xã hội. Nếu ta giả định rằng các chính trị gia chủ yếu quan tâm đến việc được bầu (một giả định hoàn toàn hợp lý) thì họ sẽ chiều theo bất kỳ nhóm nào có thể tập hợp được số phiếu lớn nhất. Do đó, nếu công nhân có thể tổ chức phiếu bầu của mình thành một khối thống nhất, họ có thể gây ảnh hưởng mang tính quyết định lên chính trị. Nhưng không chỉ có công nhân: bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng có thể tạo ra quyền lực, miễn là họ có thể phối hợp hiệu quả và chứng minh rằng họ có thể mang lại phiếu bầu. Các nhóm này có thể bao gồm các nhóm tôn giáo, sắc tộc thiểu số, người cao tuổi, phụ nữ, sinh viên, v.v. Tất cả những nhóm này đều là những nhóm lợi ích tiềm năng, và các đảng phái sẽ phân chia và kết hợp cử tri thành bất kỳ tổ hợp nhóm nào có thể đưa họ lên nắm quyền.
Chủ nghĩa đa nguyên từ lâu đã là lý thuyết có ảnh hưởng nhất về nhà nước. Hãy lưu ý rằng lý thuyết này dựa trên hai tiền đề then chốt: thứ nhất, không có nhóm nào quan trọng hơn nhóm nào khác trong cuộc đua chiếm lấy quyền ảnh hưởng; và thứ hai, nhà nước về nguyên tắc là trung lập. Chúng ta đã giới thiệu tiền đề đầu tiên: khi ta nói rằng bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng có thể thắng trong cuộc chơi ảnh hưởng, điều đó đồng nghĩa với việc không nhóm nào có lợi thế tất yếu so với nhóm khác. Nhóm nào thắng sẽ phụ thuộc vào kỹ năng của đại diện nhóm đó trong việc trình bày quan điểm, tổ chức những người khác thành một lực lượng vận động hay bầu cử mạnh mẽ, xây dựng liên minh với các nhóm khác, và dĩ nhiên, thuyết phục được công chúng Tất cả những yếu tố này sẽ quyết định nhóm lợi ích nào có ảnh hưởng. Và những kỹ năng cần thiết để đạt được điều đó thì nhìn chung ai cũng có thể sở hữu. Do đó, không có nhóm lợi ích cụ thể nào có nhiều lợi thế hơn các nhóm khác.
Tiền đề thứ hai cũng ngầm hiện diện trong câu chuyện này. Nếu đúng là bất kỳ nhóm lợi ích nào cũng có thể chiến thắng trong cuộc chơi ảnh hưởng, điều đó ngụ ý rằng nhà nước cũng sẵn sàng chịu ảnh hưởng từ bất kỳ ai. Những người quản lý nhà nước, tức tổng thống, nghị sĩ, và các quan chức cấp cao, sẵn sàng lắng nghe các ý kiến. Họ lắng nghe những người có sức thuyết phục và, quan trọng hơn, là nghe những người có vẻ như đang nắm giữ ảnh hưởng thực sự. Điều này là hợp lý đối với họ vì, một lần nữa, chính trị suy cho cùng là chuyện của những con số. Nếu một nhóm lợi ích có thể thực sự huy động được các thành viên và những người ủng hộ mình, nếu họ có thể tạo ra một liên minh bầu cử hiệu quả, thì bất kỳ chính trị gia hợp lý nào cũng sẽ chú ý, bất kể bản chất của nhóm lợi ích đó là gì đi chăng nữa. Tất nhiên, một khi ảnh hưởng được nhà nước đáp lại, thì nó sẽ được thể hiện dưới dạng ban hành luật pháp có lợi cho nhóm lợi ích đó. Theo nghĩa này, mặc dù nhà nước trung lập trước khi bị tác động, nhưng nó sẽ không còn trung lập sau khi đã bị tác động. Ý chính ở đây là trong việc sẵn sàng lắng nghe tất cả các nhóm và chấp nhận bị tác động hay chịu ảnh hưởng, nhà nước được xem là trung lập; nó không thiên vị cho hay chống lại bất kỳ bộ phận nào trong dân chúng. Nó không ưu ái ai cả. Chính theo cách hiểu này mà các nhà đa nguyên mô tả nhà nước là một thực thể trung lập.
Một nhà nước thiên lệch
Mô tả này về chính trị nghe thật dễ chịu—nhưng có vẻ công chúng Mỹ không tin vào điều đó. Kinh nghiệm đã cho thấy rằng những người dân bình thường đã đi đến kết luận: cuộc chơi này là một sự sắp đặt gian lận. Thay vì nhìn nhận nhà nước là một thực thể phục vụ lợi ích người dân thường, họ coi nó là một thực thể xa cách, không thể tin cậy. Vào năm 2021, niềm tin của công chúng vào chính phủ gần như chạm đáy, với chỉ 24% người Mỹ nói rằng họ có thể tin tưởng chính phủ sẽ bảo vệ quyền lợi của mình. Và đây không phải là một hiện tượng nhất thời: tỷ lệ tin tưởng vào chính phủ chỉ vượt qua mức 50% đúng một lần duy nhất kể từ năm 1972, và đó là ngay sau vụ tấn công ngày 11/9. Trong gần hai thế hệ, phần lớn người dân Mỹ cảm thấy rằng chính phủ của họ không thể tin cậy được.
Lý do cho điều đó thì không khó để nhận ra. Trong các cuộc khảo sát gần đây nhất, 81% người Mỹ nói rằng chính phủ cơ bản là bị giới giàu kiểm soát, trong khi 73% cho rằng người nghèo có rất ít ảnh hưởng. Đây chỉ là lần kể lại mới nhất của cùng một câu chuyện. Trong gần năm mươi năm, phần lớn người Mỹ tin rằng lý do khiến họ không thể tin vào chính phủ là vì chính phủ nằm trong tay các “nhóm lợi ích lớn”, tức là giới giàu và các tập đoàn, trong khi cử tri bình thường có rất ít, nếu không nói là không có, ảnh hưởng. Không một dữ kiện nào trong số này có lợi cho quan điểm đa nguyên về dân chủ tư bản.
Tất nhiên, nhận thức có thể sai lầm. Có thể người ta chỉ đơn giản là đang thất vọng và tự kể cho mình những câu chuyện để tự an ủi: những thuyết âm mưu về việc nhà nước bị thao túng, những câu chuyện đạo đức về “người dân thấp cổ bé họng” bị đè nén, v.v. Nhưng hóa ra những nhận thức đó lại được củng cố bởi các nghiên cứu học thuật nghiêm túc. Trong một loạt các công trình nghiên cứu có ảnh hưởng lớn, các nhà khoa học chính trị Mỹ đã xác nhận điều mà phần lớn người lao động từ lâu đã biết rõ: chính sách nhà nước trên thực tế thiên lệch mạnh mẽ về phía giới giàu. Một cách để đo lường ảnh hưởng của các giai tầng xã hội khác nhau đối với nhà nước là hỏi họ muốn chính sách gì, rồi so sánh xem các chính sách thực tế được thông qua có khớp với các nguyện vọng đó không. Kết quả thật đáng suy ngẫm. Cả hai đảng chính trị đều có xu hướng rõ ràng ưu tiên các chính sách mà giới giàu mong muốn hơn là người nghèo. Quan trọng hơn, khi người nghèo có quan điểm chính sách mâu thuẫn với giới giàu, thì khả năng chính sách của họ được thông qua gần như bằng không. Nói cách khác, bất kể ai đang cầm quyền thì người nghèo chỉ có ảnh hưởng lên quá trình chính sách khi và chỉ khi giới giàu đồng ý với họ. Nhưng khi yêu cầu của họ mâu thuẫn với giới giàu thì họ hoàn toàn không có tiếng nói nào.
Những phát hiện này là một hồi chuông cảnh tỉnh đối với giới học thuật chính thống, vốn đã quá gắn bó với quan điểm đa nguyên trong một thời gian dài. Nhưng đối với công chúng, đặc biệt là các gia đình có các thành viên là người lao động, thì điều này chẳng có gì mới mẻ, đúng như các cuộc khảo sát dư luận đã chỉ ra suốt nhiều thập kỷ. Đối với giới cấp tiến thì đây gần như là một điều hiển nhiên, vì sự thiên lệch giai cấp của nhà nước thể hiện rõ nhất khi các nhà hoạt động cố gắng thúc đẩy thay đổi chính sách vì lợi ích của người lao động. Họ cảm nhận được sự thiên lệch này qua việc nhà nước chống lại các yêu cầu của họ bằng cách chống trả một cách thù địch, thậm chí là trừng phạt. Tình trạng này đã tồn tại hơn hai trăm năm, và cho đến nay vẫn chưa thay đổi. Thách thức đặt ra là phải hiểu rõ nguồn gốc của sự thiên lệch đó, rồi xây dựng một chiến lược để vượt qua hoặc vô hiệu hóa nó. Đó chính là điều mà chương này sẽ thực hiện.
Cách chủ nghĩa tư bản làm suy yếu dân chủ
Tiền đề nền tảng của quan điểm đa nguyên là dân chủ có thể trung hòa sự bất bình đẳng quyền lực do chủ nghĩa tư bản tạo ra. Tiếc thay, đó là một tiền đề sai. Vấn đề cốt lõi trong các xã hội hiện đại là chủ nghĩa tư bản áp đảo dân chủ, khiến cho nhà nước bị thiên lệch một cách có hệ thống về phía lợi ích của giới tư bản. Có điều này xảy ra thông qua ba kênh cơ bản:
- Giới giàu dễ trở thành quan chức nhà nước hơn.
- Giới giàu có ảnh hưởng lớn hơn đến những người đang nắm quyền.
- Quan trọng nhất, sự phụ thuộc của nhà nước vào tư bản đảm bảo rằng các chính trị gia sẽ ủng hộ giới tư bản ngay cả khi hai cơ chế đầu tiên thất bại.
Cả ba kênh này hầu như luôn hoạt động cùng nhau. Ở một số quốc gia, trong một số giai đoạn nhất định, phong trào lao động đã tìm ra cách để vô hiệu hóa kênh đầu hoặc kênh thứ hai. Nhưng không thể vô hiệu hóa kênh thứ ba chừng nào chúng ta còn sống trong một hệ thống tư bản chủ nghĩa; đó là “hệ thống dự phòng an toàn” và cũng là rào cản lớn nhất trong ba rào cản. Chính vì vậy mà nó cũng là điều quan trọng nhất. Nhưng trước khi bàn đến nó, hãy cùng xem xét hai kênh đầu tiên.
Nhân lực
Lời hứa của dân chủ là bất kỳ ai cũng có thể ra tranh cử, và miễn là họ huy động được cử tri ủng hộ, thì bất kỳ ai cũng có thể thắng cử. Nhưng thực tế là, những người thắng cử thường đến từ một nhóm lợi ích cụ thể: giới giàu. Điều này đúng ở tất cả các cấp chính quyền tại Mỹ. Khi xem xét các chính phủ tổng thống, người ta thấy rằng trong thế kỷ 20, hai phần ba thành viên nội các trong mỗi nhiệm kỳ là các nhà quản lý doanh nghiệp, chuyên viên ngân hàng đầu tư hoặc luật sư doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là mỗi nội các trong lịch sử hiện đại của nước Mỹ đều về cơ bản được điều hành bởi các nhà tư bản hoặc những người ủng hộ họ.
Còn Quốc hội thì sao? Cũng không khá hơn là bao. Phần lớn các thành viên Hạ viện và Thượng viện Mỹ đều xuất thân từ những tầng lớp giàu có nhất trong xã hội. Vào năm 2014, đa số những người đắc cử vào Hạ viện là triệu phú, với giá trị tài sản ròng trung vị gần 1 triệu đô la, trong khi con số đó ở Thượng viện là 2,7 triệu đô la. Ngay cả khi những người quản lý nhà nước không trực tiếp xuất thân từ giai cấp tư bản, thì họ vẫn thường đến từ các môi trường xã hội và thể chế có mối quan hệ chặt chẽ với giới tư bản, như các hãng luật lớn, các trường đại học danh giá, và các viện nghiên cứu uy tín. Đây là những người đã dành cả cuộc đời để phục vụ tư bản, cho dù bản thân họ không sở hữu nhiều tài sản.
Tại sao điều này lại quan trọng? Rõ ràng nhất là bởi vì xuất thân xã hội của một người ảnh hưởng rất lớn đến cách người đó nhìn nhận thế giới. Bảng 1 tóm tắt những quan điểm khác nhau giữa giới rất giàu và người dân bình thường về một số vấn đề chính sách. Hãy chú ý rằng quan điểm của giới giàu gần như lúc nào cũng thiên về hướng bảo thủ hơn ở tất cả các vấn đề. Giờ đây, nếu cách họ phân biệt đúng sai trên các vấn đề đó đã bị lệch như vậy, và nếu các quan chức được bầu đều xuất thân từ nhóm người này, thì chương trình chính sách của họ cũng sẽ nghiêng về cùng hướng. Điều đó sẽ dẫn đến một sự thiên lệch chính sách có lợi cho giới giàu.
Bảng 1: Quan điểm về chính sách
|
|
Phần trăm | ||
| Tất cả công dân | Triệu phú | Phần chênh | |
| Việc làm và thu nhập | |||
| Chính phủ nên đảm bảo về lương thực, quần áo và nhà ở | 68 | 43 | -25 |
| Mức lương tối thiểu nên cao hơn mức nghèo khổ | 78 | 40 | -38 |
| Chính phủ nên cung cấp việc làm cho tất cả những người có khả năng và sẵn sàng làm việc mà không thể tìm được việc làm trong khu vực tư nhân | 53 | 8 | -45 |
| Nên cung cấp trợ cấp đủ sống cho những người thất nghiệp | 50 | 23 | -27 |
| Chăm sóc sức khỏe | |||
| Bảo hiểm y tế quốc gia nên được chi trả bằng tiền thuế | 61 | 32 | -29 |
| Lương hưu | |||
| An sinh xã hội nên được mở rộng | 55 | 3 | -52 |
| Giáo dục | |||
| Không nên giới hạn số tiền để đầu tư vào các trường công thực sự tốt | 87 | 35 | -52 |
| Chính phủ nên đảm bảo ai ai cũng có thể học đại học | 78 | 28 | -50 |
| Thuế | |||
| Chính phủ nên giảm sự chênh lệch giữa thu nhập cao và thu nhập thấp | 46 | 17 | -29 |
| Chính phủ nên giảm bất bình đẳng bằng cách đánh thuế nặng vào người giàu | 52 | 17 | -35 |
Nguồn: Phân tích của EPI dựa trên dữ liệu từ Cục Thống kê Lao động (Bureau of Labor Statistics) và Cục Phân tích Kinh tế (Bureau of Economic Analysis). Cập nhật từ Hình A trong Raising America’s Pay: Why It’s Our Central Economic Challenge, Viện Chính sách Kinh tế (Economic Policy Institute).
Vị trí giai cấp cũng ảnh hưởng theo một cách ít ai để ý đến. Lựa chọn của các chính trị gia không chỉ bị ảnh hưởng bởi nơi họ xuất thân mà còn bởi nơi họ muốn đến sau khi rời chính trường. Một bộ phận lớn các nhà lập pháp sử dụng thời gian tại vị để chuẩn bị bước vào thế giới doanh nghiệp sau khi rời khỏi chính trị. Họ làm cố vấn, vận động hành lang, người trung gian, hoặc tự thành lập doanh nghiệp. Những mối quan hệ và kiến thức nội bộ mà họ tích lũy được trong thời gian làm việc tại chính phủ là vô giá đối với các công ty muốn tiếp cận những người làm chính sách. Vì vậy, một nhiệm kỳ ngắn trong Quốc hội hoặc Nghị viện có thể mang lại lợi ích tài chính khổng lồ về sau. Đường dây kết nối giữa sự nghiệp trong chính phủ và công việc vận động hành lang hấp dẫn đến mức nó có hẳn một tên gọi riêng—“cánh cửa xoay”. Và tại sao điều này lại quan trọng? Bởi nếu một nhà lập pháp có ý định gia nhập giới doanh nghiệp sau khi kết thúc sự nghiệp chính trị, họ sẽ cố gắng dành thời gian tại nhiệm để xây dựng quan hệ với những người có thể là nhà tuyển dụng hoặc đối tác tương lai, và thể hiện rằng mình là người đáng tin cậy—rằng họ có thể được trông cậy làm điều “đúng đắn”. Điều này chỉ làm củng cố thêm xu hướng thiên lệch trong chính sách của họ theo hướng có lợi cho giới tư bản.
Trò chơi ảnh hưởng
Những người theo thuyết đa nguyên cũng phải thừa nhận rằng chính phủ bị thống trị bởi người giàu, bởi vì làm sao họ có thể phủ nhận điều đó được? Nhưng họ sẽ lập luận rằng các công cụ của nền dân chủ hiện đại giúp chống lại những thiên kiến cá nhân. Dù một chính trị gia có xu hướng thiên lệch thế nào, nếu bà ta phớt lờ ý kiến của cử tri, hoặc chà đạp lên mong muốn của họ, bà ta sẽ mất uy tín và cuối cùng là mất quyền lực. Vì vậy, theo lập luận của những người theo thuyết đa nguyên, điều quan trọng không phải là tiểu sử cá nhân của các nhà lập pháp, mà là sức nặng của dư luận quần chúng, được thể hiện qua các khối cử tri trong bầu cử hoặc áp lực từ các nhóm lợi ích có tổ chức trong quá trình hoạch định chính sách. Miễn là các nhóm lợi ích có thể tập hợp và gây ảnh hưởng lên nhà nước, thì những người điều hành nhà nước buộc phải lắng nghe họ, nếu không muốn bị loại khỏi vị trí quyền lực.
Tạm chấp nhận rằng các chính trị gia thực sự có lý do chính đáng để lắng nghe dư luận và các nhóm áp lực. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ để chứng minh cho sự lạc quan của thuyết đa nguyên. Việc các chính trị gia sẵn lòng tiếp thu ý kiến chỉ tạo ra kết quả dân chủ nếu người nghèo thực sự có thể tiếp cận được với các nhà hoạch định chính sách. Để người nghèo có cơ hội được đại diện lợi ích ngang bằng với người giàu, họ cũng phải thành công ngang bằng trong việc tổ chức và sử dụng các nhóm áp lực. Nhưng nếu toàn bộ quá trình gây ảnh hưởng bị thống trị bởi giới giàu có, nếu chỉ người giàu mới có thể tiếp cận với những người điều hành nhà nước, thì quá trình vận động hành lang không những không chống lại thiên kiến cá nhân của chính trị gia, mà ngược lại, còn củng cố thêm những thiên kiến ấy. Thành công trong vận động hành lang sẽ chồng chất thêm lên những thiên kiến có sẵn của các nhà điều hành nhà nước, khiến nhà nước càng nghiêng hẳn về phía lợi ích của tư bản.
Thực tế là đã có dữ liệu rất rõ ràng về việc ai là người chiến thắng trong trò chơi ảnh hưởng, và kết quả thì nghiêng hẳn về phía giới tư bản. Hãy bắt đầu với vấn đề vận động hành lang, vốn là cách phổ biến nhất mà các nhóm lợi ích tổ chức gây áp lực lên nhà nước. Ở Hoa Kỳ, phần lớn hoạt động vận động hành lang được thực hiện qua các hiệp hội đã đăng ký có trụ sở tại Washington, DC, đại diện cho các nhóm lợi ích mà những người theo thuyết đa nguyên thường nhắc đến. Những hiệp hội này làm công việc liên lạc với các nhà lập pháp, viết bản ghi chính sách, gọi điện, và gặp gỡ các nhà hoạch định chính sách để cố gắng thuyết phục họ nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của nhóm cử tri mà họ đại diện. Trong ngôn ngữ thông thường, họ được gọi là “những người vận động hành lang.” Đây là những tổ chức được cho là có thể tiếp cận chính trị gia để giữ họ “thành thật.” Nhưng thực tế là các tổ chức đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp áp đảo hoàn toàn so với các tổ chức vì người lao động, vì chúng cao hơn rất nhiều lần.
Năm 2011, có khoảng 11.000 tổ chức vận động hành lang đã đăng ký tại Washington, DC. Một nghiên cứu lớn về quá trình vận động hành lang cho thấy trong số các tổ chức này, khoảng 53% là dành riêng cho việc đại diện lợi ích doanh nghiệp, trong khi chưa đến 1% đại diện cho các công đoàn. Các nhóm vận động cho doanh nghiệp nhiều gấp hơn 50 lần so với các nhóm lao động. Nếu ta xét đến các tổ chức đại diện cho những người nhận trợ cấp xã hội có điều kiện, như Medicaid hoặc tem phiếu thực phẩm, thì không có một tổ chức nào ở Washington, DC được đăng ký để chuyên đại diện cho lợi ích của họ. Nếu xét theo chi tiêu, sự chênh lệch còn rõ ràng hơn. Năm 2020, tổng số tiền được chi chính thức bởi các tổ chức vận động hành lang đăng ký tại Washington là 3,53 tỷ đô la. Trong đó, 2,99 tỷ đô la đến từ giới doanh nghiệp, trong khi giới lao động chỉ chi 49,15 triệu đô la—tức là tỷ lệ chi tiêu giữa doanh nghiệp và lao động là khoảng 57:1.
Vận động hành lang chỉ là một trong nhiều hình thức gây ảnh hưởng, và chưa phải là quan trọng nhất. Vai trò của tiền trong các cuộc bầu cử cũng quan trọng không kém. Việc vận hành một chiến dịch tranh cử tốn rất nhiều tiền. Ở Hoa Kỳ, nó tốn một số tiền khổng lồ. Năm 2020, 8,7 tỷ đô la được chi cho các cuộc đua vào Quốc hội và 5,7 tỷ đô la cho cuộc đua tổng thống, tổng cộng là 14,4 tỷ đô la. Các chiến dịch tranh cử tổng thống hiện nay đòi hỏi quỹ vận động vượt quá 1 tỷ đô la. Năm 2016, những người thắng trong cuộc đua vào Hạ viện chi trung bình 12,35 triệu đô la, còn cuộc đua giành ghế Thượng viện có giá trung bình 27 triệu đô la.
Tất cả số tiền này phải đến từ đâu đó. Các chính trị gia thích khoe khoang rằng phần lớn các khoản quyên góp cho họ là những khoản nhỏ, ám chỉ rằng họ được tiếp sức bởi sự ủng hộ của các gia đình thuộc tầng lớp lao động hoặc trung lưu. Nhưng đây chỉ là một thủ thuật. Số lượng người quyên góp dĩ nhiên thiên về những người quyên góp nhỏ, bởi vì phần lớn mọi người không đủ giàu để quyên góp những khoản lớn. Nhưng nếu chúng ta không xét đến số lượng người quyên góp mà xem xét trọng lượng tương đối của các khoản quyên góp, ta sẽ có một bức tranh khác. Thực tế là chỉ một số rất nhỏ trong số đó chiếm phần lớn tổng số tiền chảy vào các cuộc bầu cử. Trong chu kỳ bầu cử năm 2020, 1,8% dân số trưởng thành đã chiếm hơn hai phần ba (67,3%) tổng số tiền quyên góp cho các chiến dịch chính trị. Một trong những phát hiện đáng kinh ngạc nhất đến từ nhóm nghiên cứu của New York Times vào năm 2016. Họ phát hiện rằng chỉ 158 gia đình đã đóng góp một nửa số tiền mà cả hai đảng đã huy động được trong giai đoạn đầu của chu kỳ bầu cử năm 2016—khoảng 176 triệu đô la. Vì vậy, mặc dù các nhà tài trợ nhỏ chiếm số đông, nhưng họ không có nhiều trọng lượng về mặt kinh tế. Chính các nhà tài trợ lớn mới thực sự tạo ra sự khác biệt. Dòng tiền chảy vào bầu cử vốn dĩ, và vẫn tiếp tục, được kiểm soát bởi giai cấp tư bản—những người nằm trong nhóm 1% giàu nhất dân số.
Việc tiền đóng vai trò quan trọng như vậy có nghĩa là những người có nhiều tiền nhất thường nắm giữ nhiều quyền lực nhất. Những người muốn ra tranh cử hiểu rằng họ phải huy động được một khoản tiền khổng lồ. Bất kỳ ứng cử viên nào có đầu óc thực tế cũng hiểu rằng việc tiếp cận những người có khả năng quyên góp nhiều tiền hơn sẽ hiệu quả hơn nhiều, vì nó sẽ giúp họ tiết kiệm thời gian và công sức. Nhận một nghìn đô la từ một người tốt hơn nhiều thay vì mười đô la từ một trăm người khác nhau. Nhưng điều này tạo ra một thách thức cụ thể cho các ứng viên: họ phải là kiểu người mà giới tư bản muốn giúp đỡ. Nếu không phải, thì tiền sẽ chảy sang người khác—người mà giới tư bản tin rằng sẽ thúc đẩy lợi ích của họ tốt hơn.
Vì vậy, các ứng viên sẽ xây dựng một hồ sơ cá nhân và một chương trình chính trị không làm mất lòng các nhà tài trợ quyền lực, để họ có cơ hội huy động đủ tiền và trở thành ứng cử viên có tính cạnh tranh. Họ phải làm cho các ưu tiên của mình trở nên có thể chấp nhận được đối với giới siêu giàu; họ phải hứa sẽ sẵn sàng lắng nghe những người này; và họ phải soạn thảo một chương trình chính sách nằm trong giới hạn của những gì giới tài phiệt cho là phù hợp. Họ không cần phải trao đổi đặc quyền để lấy tiền một cách lộ liễu: quá trình này không nhất thiết phải tham nhũng đến vậy. Họ chỉ cần hứa sẽ là kiểu ứng viên mà các nhà tài trợ giàu có có thể tin tưởng.
Điều này có nghĩa là trong một hệ thống bầu cử bị chi phối bởi tiền bạc, thực chất có hai cuộc cạnh tranh trong mỗi chu kỳ bầu cử: một cuộc cạnh tranh diễn ra phía sau hậu trường và một diễn ra công khai. Phía sau hậu trường, các ứng viên cạnh tranh để thu hút các nhà tài trợ; rồi sau đó, mới đến cuộc bầu cử mà tất cả chúng ta đều nhìn thấy, tức cuộc cạnh tranh để giành lá phiếu. Điểm then chốt là cuộc chiến giành nhà tài trợ sẽ quyết định những ứng viên nào có mặt trong vòng hai—cuộc chiến giành phiếu bầu. Các ứng viên không tìm được nhà tài trợ sẽ bị loại bỏ trước khi cử tri kịp lên tiếng, hoặc trở nên quá mờ nhạt đến mức không có cơ hội chiến thắng. Họ không có tiền để thuê nhân viên, không thể mua thời lượng quảng cáo, không thể điều hành một chiến dịch hiệu quả, v.v. Họ hoặc là bỏ cuộc, hoặc bị loại. Vì vậy, cuộc cạnh tranh về tiền bạc sẽ quyết định ai được tham gia cuộc đua giành phiếu bầu.
Điều này làm thay đổi hoàn toàn vai trò của dư luận trong các cuộc bầu cử. Hãy nhớ rằng có hai cơ chế được cho là giúp công chúng kiểm soát những người điều hành nhà nước: vận động hành lang có tổ chức và lá phiếu. Theo quan điểm chính thống, một chính trị gia lý trí sẽ điều chỉnh chính sách của mình theo mong muốn của công chúng, bởi vì dư luận sẽ quyết định ai thắng trong các cuộc bầu cử. Theo quan điểm đó, các ưu tiên của chính trị gia phải phù hợp với các ưu tiên của công chúng. Nhưng điều này bỏ qua tác động của cuộc chiến giành nhà tài trợ. Cuộc chạy đua để có được tài trợ chiến dịch buộc các ứng viên phải đặt ý kiến của giới có tiền lên trên các ưu tiên của công chúng. Họ buộc phải điều chỉnh chương trình chính sách của mình theo chương trình của các nhà tài trợ, bởi vì nếu không thì họ sẽ tự loại mình khỏi cuộc cạnh tranh bầu cử.
Kết quả là ý kiến của giới tinh hoa và ý kiến chung của công chúng đóng những vai trò khác nhau trong tiến trình chính trị. Ý kiến của giới tinh hoa là thứ mà các ứng viên tuân theo và ưu tiên, trong khi ý kiến đại chúng là thứ mà họ tìm cách kiểm soát. Nói cách khác, ý kiến của giới tinh hoa định hình các ưu tiên của ứng viên, trong khi dư luận giữ vai trò bị động hơn: là một rào cản mà họ cố gắng vượt qua. Nhưng kiểm soát dư luận không giống như phớt lờ nó. Điều đó đòi hỏi một chiến lược kép, tùy thuộc vào việc dư luận có ủng hộ lợi ích của giới tư bản hay không. Thứ nhất, khi không xung đột với lợi ích của giới tư bản, các chính trị gia sẵn sàng nghiêm túc lắng nghe hoặc thậm chí chiều theo dư luận. Ví dụ tiêu biểu nhất là các vấn đề phi kinh tế như xung đột tôn giáo hoặc các vấn đề xã hội như bản dạng giới. Những vấn đề này thường được phép chiếm vị trí trung tâm vì dù kết cục ra sao, chúng không thực sự ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của các nhà tài trợ. Trên thực tế, chúng rất hữu ích trong vai trò đánh lạc hướng, vì việc đặt các vấn đề này lên hàng đầu sẽ làm giảm sự chú ý đến các chính sách liên quan đến lợi ích giai cấp, từ đó khiến các quyết định về kinh tế chìm xuống hậu trường và được bàn luận thông qua đàm phán giữa giới tư bản và người điều hành nhà nước.
Thứ hai, trong những trường hợp mà dư luận thực sự mâu thuẫn với lợi ích của giới tài trợ, nó phải bị vô hiệu hóa theo cách nào đó. Cách phổ biến nhất là làm chệch hướng các yêu cầu của công chúng sang những chính sách ít đe dọa hơn đối với giới tinh hoa, hoặc viện dẫn đến “tính thực tiễn.” Ví dụ tiêu biểu nhất là cách mà các đảng phái ở Mỹ xử lý yêu cầu của công chúng về hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia. Trong nhiều thập kỷ, dư luận đã kêu gọi một hệ thống y tế công cộng cấp quốc gia. Do vấn đề này không thể phớt lờ được nên cả hai đảng đã cố gắng vô hiệu hóa nó. Năm 1992, vợ chồng Clinton đã làm chệch hướng yêu cầu đó bằng một hệ thống mang tên “chăm sóc quản lý”: một cấu trúc quan liêu cồng kềnh mà, dưới danh nghĩa “chính sách quốc gia,” thực chất giao quyền kiểm soát y tế cho các công ty bảo hiểm và bệnh viện tư.
Hai mươi bốn năm sau, khi Bernie Sanders kêu gọi áp dụng hệ thống theo kiểu Canada, thì một lần nữa lại là một người trong gia đình Clinton đứng ra bảo vệ hiện trạng. Không thể lặp lại trò đánh tráo như năm 1992, Hillary đã chọn cách làm xẹp kỳ vọng công chúng. Bà trở thành ứng viên “hãy hạ thấp kỳ vọng.” Thay vì lấy dư luận làm chỉ dẫn, chiến lược của bà là làm giảm bớt nó bằng cách tuyên bố rằng đó không phải là điều thực tế. Bài học ở đây là, với tư cách là người được giới doanh nghiệp ưa chuộng, Hillary Clinton không nhận được ủy nhiệm từ cử tri mà từ các nhà tài trợ. Và phản ứng của bà trước một yêu cầu đi ngược lại lợi ích của giới tài trợ là cố gắng vô hiệu hóa sức mạnh của dư luận.
Tóm lại, khi chúng ta kết hợp cả hai chiều cạnh của trò chơi ảnh hưởng—vận động hành lang và tiến trình bầu cử—thì điều hiện rõ ràng là cả hệ thống thiên lệch một cách áp đảo về phía tư bản. Hệ quả là quan điểm chính thống, đa nguyên về dân chủ trong xã hội tư bản là một quan điểm sai lệch nghiêm trọng, ngay cả khi xét trên chính những giả định của nó. Chủ nghĩa đa nguyên cho rằng nhà nước và người điều hành nhà nước không thiên vị bất kỳ bộ phận nào trong xã hội, và nếu có thì họ cũng phải tuân theo dư luận, vì nếu không họ sẽ bị trừng phạt. Nhưng như chúng ta đã thấy, ngay cả khi các nhà điều hành nhà nước chấp nhận chịu ảnh hưởng từ bất kể ai chiến thắng trong trò chơi ảnh hưởng, dù là người giàu hay nghèo đi chăng nữa, thì sau cùng họ vẫn sẽ phục vụ người giàu. Nói cách khác, ngay cả khi họ trung lập về mặt quan điểm, không có thiên kiến cá nhân thì nhà nước vẫn sẽ nghiêng về phía giới tư bản, vì sự giàu có vượt trội của giới này cho họ lợi thế to lớn trước mọi nhóm lợi ích khác. Thay vì trung hòa thiên kiến giai cấp của chính trị gia, quá trình chính trị lại củng cố những thiên kiến đó.
Mối liên hệ mang tính cấu trúc
Hai nguồn gốc của sự thiên lệch nhà nước mà chúng ta đã khảo sát có điểm chung: chúng bắt nguồn từ việc giới tư bản có mức độ tiếp cận cá nhân lớn hơn với nhà nước. Đó là những hình thức “chiếm đoạt nhà nước.” Nhà nước trở nên thiên lệch vì giới tư bản và tay chân của họ chiếm giữ quyền lực, hoặc có ảnh hưởng đến những người nắm quyền. Những cơ chế này rõ ràng rất quan trọng. Nếu có thể đảo ngược hoặc vô hiệu hóa chúng thì có thể sẽ mở ra được không gian đáng kể cho chính sách cấp tiến hơn. Và thực tế đã chứng minh rằng trong những trường hợp chúng bị lật đổ thì chính sách có xu hướng nghiêng về phía người nghèo. Điển hình nhất là khi người lao động có thể thành lập đảng riêng và đưa các ứng viên xuất thân từ tầng lớp bình dân lên cầm quyền, định hướng chung của nhà nước thường có sự thay đổi.
Ví dụ tiêu biểu là các đảng lao động hoặc dân chủ xã hội ở châu Âu và một số khu vực của phía Nam bán cầu. Trong những trường hợp này thì họ thành công không chỉ vì người làm chính sách có xuất thân khiêm tốn hơn, mà các tổ chức đó cũng đã giải phóng mình khỏi sự bảo trợ của người giàu. Họ có thể tự gây quỹ, và quan trọng không kém là họ những đảng đại chúng. Điều này có nghĩa là họ đã huy động được nguồn lực duy nhất mà họ có dồi dào: sự tận tâm và năng lượng của các thành viên. Họ cũng sản sinh ra các chuyên gia riêng, nhờ đó ít phụ thuộc vào cố vấn từ giới vận động hành lang; và họ có trải nghiệm trực tiếp với đời sống người lao động, nên họ có những chương trình và chính sách rõ ràng. Tất cả những yếu tố này kết hợp lại để phần nào lật ngược lợi thế mang tính hệ thống mà giới tư bản thường có trong quá trình hoạch định chính sách.
Tuy nhiên, việc chặn đứng các hình thức chiếm đoạt nhà nước chỉ mới đi được một đoạn đường trong việc sửa sai sự thiên lệch của nhà nước về phía tư bản. Nó không tự thân xóa bỏ thiên lệch đó. Lý do là vì tính giai cấp của nhà nước không bắt nguồn chủ yếu từ việc giới tư bản có khả năng tiếp cận người làm chính sách dễ hơn. Dù những điều đó có ảnh hưởng mạnh mẽ nhưng chúng chỉ là những cơ chế thứ cấp. Điều này được chứng minh bằng thực tế rằng ngay cả ở những quốc gia đã phần nào vô hiệu hóa sự chiếm đoạt nhà nước—như các nước dân chủ xã hội ở châu Âu—thì sự ưu tiên cơ bản dành cho lợi ích tư bản vẫn không bị lay chuyển. Những người làm chính sách vẫn phải tôn trọng tính toàn vẹn của sở hữu tư nhân và sự ưu tiên dành cho động cơ lợi nhuận. Lý do là bởi vì có một lực lượng sâu xa hơn, mạnh mẽ hơn giữ nhà nước gắn liền với lợi ích của giai cấp tư bản, ngay cả khi những nguồn ảnh hưởng khác đã suy yếu. Và nó hiệu quả vì đó là một ràng buộc không thể vô hiệu hóa hay đảo ngược chừng nào ta còn sống trong một hệ thống tư bản.
Nguồn gốc cơ bản của sự thiên lệch này là sự lệ thuộc mang tính cấu trúc của nhà nước vào đầu tư tư nhân để duy trì chính nó. Dù nhà nước làm gì, theo đuổi chính sách gì đi chăng nữa thì trước tiên nó phải đảm bảo rằng các cơ hội sinh lời của giới tư bản phải được bảo toàn. Một trọng trách trung tâm của việc đảm bảo các cơ hội đó là tạo ra một môi trường chính trị thân thiện với nhu cầu và kế hoạch của các chủ sở hữu tư bản. Điều này buộc nhà nước phải tôn trọng lợi ích tư bản, bất kể chương trình hành động hay ý thức hệ chính trị của họ là gì đi chăng nữa.
Hãy cùng phân tích kỹ hơn. Trong một nền kinh tế tư bản, việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ đều nằm trong tay những người sở hữu tư liệu sản xuất, tức là giai cấp tư bản. Điều này đúng theo định nghĩa. Nói cách khác, trong chủ nghĩa tư bản, tư liệu sản xuất không nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước mà là do tư nhân sở hữu. Vì vậy, có một sự phân tách rõ ràng giữa các thể chế chính trị và các thể chế kinh tế. Các hoạt động kinh tế được tiến hành dưới sự điều hành của các nhà tư bản, trong khi các công việc công như làm luật hay giữ gìn trật tự lại là trách nhiệm của nhà nước. Giới tư bản dựa vào các thể chế công để tạo ra những điều kiện nền tảng cho hoạt động kiếm lời của họ. Ngược lại, nhà nước lại dựa vào đầu tư của giới tư bản để tạo ra thu nhập và của cải mới.
Việc nhà nước không tự mình sở hữu tư liệu sản xuất là điều cực kỳ quan trọng. Cũng như bất kỳ tổ chức nào muốn tồn tại lâu dài, nhà nước cần có một dòng tiền ổn định để vận hành. Nhà nước phải trả lương cho công chức, tài trợ cho các chương trình mình triển khai, mua sắm vật tư cần thiết để hoạt động hàng ngày, v.v. Tất cả những khoản chi này đều lấy từ ngân sách nhà nước. Nhưng ngân sách không tự nhiên sinh ra tiền. Tiền phải đến từ một nơi nào đó – và vì nhà nước không có tài sản sản xuất riêng, nên phải lấy từ các nguồn khác. Nguồn chính là thuế. Phần lớn nguồn thu của nhà nước đến từ việc đánh thuế người dân. Các loại thuế này có thể là thuế trực tiếp như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp; hoặc thuế gián tiếp như thuế bán hàng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng. Dù dưới hình thức nào, các loại thuế này chính là nguồn thu chủ yếu của nhà nước hiện đại. Chúng chính là thứ giúp bộ máy nhà nước vận hành.
Thuế là một cách để nhà nước yêu cầu được chia phần từ thu nhập xã hội. Do đó, nếu những người điều hành nhà nước muốn có dòng thu ổn định thì các khoản thu nhập mà họ đánh thuế cũng cần phải tăng trưởng đều đặn. Nhưng chúng ta đều biết rằng trong nền kinh tế tư bản, thu nhập phụ thuộc vào quyết định đầu tư của giới tư bản. Khi các ông chủ tư bản mở rộng nhà máy và lập thêm công ty mới, điều đó đồng nghĩa với việc tạo ra việc làm mới và có thêm tiền cho người lao động. Những khoản đầu tư mới đó dẫn tới việc bán được nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn, khiến lợi nhuận và thu nhập cá nhân của nhà tư bản tăng lên. Vì vậy, sự tăng trưởng thu nhập của cả tư bản lẫn lao động đều phụ thuộc vào việc có đầu tư mới trước đó. Điều này có nghĩa là: nếu muốn có nguồn thu thuế dồi dào cho nhà nước, thì kinh tế phải phát triển, và muốn kinh tế phát triển thì đầu tư tư bản phải tăng.
Điều này dẫn đến điểm mấu chốt. Nếu các nhà tư bản có thể bị “lập trình” để liên tục đầu tư bất kể chính phủ làm gì, thì nhà nước có thể thoải mái thông qua bất kỳ chính sách nào mà không cần lo lắng nhiều. Ngân sách sẽ luôn có tiền và các chương trình của các chính trị gia sẽ được tài trợ đầy đủ. Vấn đề là, giới tư bản không có nghĩa vụ phải đầu tư. Họ hoàn toàn có thể chọn giảm tốc độ đầu tư, hoặc thậm chí không đầu tư gì cả. Họ có thể chuyển tiền ra nước ngoài và gửi vào các công cụ tài chính. Họ muốn làm gì với lợi nhuận của mình là hoàn toàn tùy ý.
Đối với những người điều hành nhà nước, điều này tạo ra một vấn đề cực kỳ lớn. Nếu giới đầu tư quyết định giảm tốc độ đầu tư, ngân sách nhà nước sẽ cạn kiệt dần, các sáng kiến chính sách trở nên bấp bênh, và các chương trình xã hội mất nguồn tài trợ. Không chỉ vậy, khi kinh tế chậm lại, số việc làm mới cũng giảm sút. Tỷ lệ thất nghiệp tăng, nghèo đói lan rộng, chất lượng cuộc sống đi xuống. Trong một chế độ dân chủ, điều này đồng nghĩa với việc đảng cầm quyền hoặc tổng thống sẽ phải trả giá – thường là họ sẽ bị đánh bật khỏi ghế trong cuộc bầu cử tiếp theo, vì công chúng sẽ đổ lỗi cho họ về tình trạng suy thoái. Như vậy, bất kỳ sự chậm lại nào trong hoạt động kinh tế đều giáng đòn kép lên chính phủ – vừa làm mất nguồn lực để thực hiện chương trình chính trị, vừa làm suy giảm sự ủng hộ của cử tri.
Kết quả là, các nhà điều hành nhà nước thường rất cẩn trọng, tránh làm những điều có thể khiến giới tư bản không hài lòng. Sự thận trọng này cho thấy rằng trong một hệ thống tư bản, nhà nước về bản chất là phụ thuộc vào giới tư bản. Dù hoàn cảnh chính trị địa phương có ra sao đi chăng nữa thì sự phụ thuộc này đã được tích hợp vào kiến trúc nền tảng của nhà nước trong xã hội tư bản. Điều đó đúng bất kể giới tư bản có tổ chức tốt đến đâu, hay họ có xuất hiện nhiều tới mức nào trong bộ máy quyền lực hay không. Chính vì lý do này, ngay cả khi hai con đường ảnh hưởng khác của giới tư bản bị chặn thì nhà nước vẫn là một cơ quan đại diện cho giai cấp tư sản, tức là một thể chế buộc phải tôn trọng và ưu tiên lợi ích của giới tư bản.
Thực tế, điểm chiến lược của sự phụ thuộc mang tính cấu trúc này là nó củng cố và tăng cường sức mạnh của hai con đường ảnh hưởng còn lại. Các nhà làm chính sách hiểu rằng sự thành công của họ trên chính trường phụ thuộc vào sức khỏe của nền kinh tế: nếu người dân mất việc, họ sẽ bỏ phiếu lật đổ đảng cầm quyền. Vì vậy, giới tinh hoa chính trị luôn cố gắng xây dựng lòng tin của giới đầu tư bằng cách lắng nghe các ưu tiên của họ. Đây là lý do vì sao trong hầu hết các nội các, những vị trí kinh tế then chốt thường được trao cho các đại diện uy tín từ giới doanh nghiệp. Bộ trưởng tài chính hoặc ngân khố thường là chủ ngân hàng; bộ thương mại thường do một doanh nhân lớn điều hành; v.v. Khi soạn thảo luật về kinh tế, các nhà quản lý nhà nước không đợi các nhóm vận động hành lang tìm đến. Thường thì chính họ chủ động tiếp cận các đại diện ngành công nghiệp để xin ý kiến, nhằm đảm bảo luật mới phù hợp với giới kinh doanh.
Nói cách khác, vì các nhà điều hành nhà nước hiểu rằng an toàn chính trị của họ phụ thuộc vào niềm tin của giới đầu tư, họ thường chủ động xây dựng lòng tin đó bằng cách mời giới tư bản vào bộ máy quyền lực, tức là nhà nước tự động cho họ quyền tiếp cận mà các nhóm khác phải đấu tranh rất vất vả mới có được. Sự phụ thuộc mang tính cấu trúc vào tư bản buộc nhà nước phải thiết lập các mối quan hệ cá nhân với những người thuộc tầng lớp đó. Vì vậy, ngay cả khi các thiết chế chính trị được thiết kế để vô hiệu hóa mọi ưu thế của giới tư bản trong cuộc chơi ảnh hưởng, thì nhà nước vẫn có lý do chính đáng để tìm đến họ, đơn giản là vì họ chiếm vị thế đặc quyền trong toàn bộ hệ thống.
Quyền lực thật sự nằm ở nền kinh tế
Từ lập luận trên, có thể rút ra một kết luận quan trọng: trong chủ nghĩa tư bản, quyền lực thật sự không nằm ở nhà nước, mà nằm trong nền kinh tế. Điều đó có nghĩa là việc giành được vị trí trong bộ máy nhà nước không đồng nghĩa với việc có được quyền lực thực sự. Có thể nói, có một sự khác biệt rất lớn giữa việc nắm chức vụ và nắm quyền lực.
Chúng ta đã thấy nhiều lần: các đảng cánh tả đưa ra những lời hứa lớn lao, giành được chiến thắng bầu cử, nhưng chỉ trong thời gian ngắn họ lại phản bội cử tri. Sau khi hứa hẹn sẽ tiến hành những chương trình cải cách xã hội đầy tham vọng, họ lại chẳng thực hiện được bao nhiêu – thậm chí còn thực hiện những chính sách “thắt lưng buộc bụng” còn hà khắc hơn cả các đảng bảo thủ. Điều này xảy ra là vì giới tư bản có thể khiến bất kỳ chính phủ nào – kể cả cấp tiến nhất – phải quỳ gối mà không cần bắn phát súng nào. Họ chỉ cần làm chậm nhịp độ đầu tư, kinh tế chững lại, và các nhà lãnh đạo chính trị sẽ buộc phải thay đổi ưu tiên: mọi thứ khác đều phải nhường chỗ cho việc “trấn an nhà đầu tư”.
Muốn thực hiện thay đổi xã hội thật sự trong hệ thống tư bản, việc đưa đúng đảng hay đúng người vào ghế quyền lực là không đủ. Điều cần thiết là phải tìm ra cách đối trọng với quyền lực kinh tế của giới tư bản. Câu hỏi “bằng cách nào” sẽ là nội dung phần tiếp theo.
Cải cách đến từ đâu?
Phân tích trên cho thấy nhận thức phổ biến của người dân về chính phủ không sai – nhà nước bị tầng lớp giàu có chi phối và về cơ bản phục vụ lợi ích của họ. Hơn nữa, nhà nước không thiên vị họ vì lý do cá biệt như tham nhũng hay sự suy đồi đạo đức của chính trị gia. Sự thiên vị giới tư bản là một phần cấu trúc của hệ thống: trước hết là vì họ có nguồn lực to lớn để gây ảnh hưởng, nhưng quan trọng hơn là vì nhà nước phụ thuộc về mặt cấu trúc vào giới tư bản. Điều này có nghĩa là nếu để mặc nhà nước tự vận hành, ta không thể trông đợi nó trở thành đối trọng chống lại quyền lực của giới tư bản. Nhà nước sẽ không chủ động hỗ trợ người lao động đấu tranh đòi quyền lợi, không bảo vệ họ khỏi sức mạnh của chủ doanh nghiệp, cũng không giúp người dân có được các nhu cầu thiết yếu. Trái lại, xu hướng cơ bản của nhà nước là bảo vệ các đặc quyền của giới giàu chứ không phải làm giảm chúng.
Điều này dẫn đến một câu hỏi quan trọng: nếu các nhà điều hành nhà nước thường không tự đưa ra các chính sách tiến bộ, thì các cải cách tiến bộ đến từ đâu? Bởi vì rõ ràng, hầu hết các quốc gia tư bản phát triển – và cả nhiều nước ở Nam bán cầu – đều có nhà nước phúc lợi. Và dù có nhiều hạn chế, các nhà nước phúc lợi ít nhất cũng làm giảm tác động của thị trường. Chúng đôi khi phân phối lại thu nhập cho người lao động, hoặc cung cấp các dịch vụ cơ bản miễn phí. Những chính sách này là điều mà người lao động yêu cầu, và giới tư bản phản đối. Vậy làm sao chúng có thể được ban hành nếu nhà nước luôn nghe theo tư bản? Điều gì đã làm cho chúng trở thành hiện thực?
Trước hết, cần khẳng định rằng phân tích trên không có nghĩa là nhà nước sẽ không bao giờ ban hành cải cách tiến bộ. Thay vào đó, kết luận là: nếu để mặc một mình, nó sẽ không làm vậy. Những gì chúng ta vừa mô tả là các cơ chế khiến nhà nước có xu hướng ưu tiên lợi ích của tư bản hơn lợi ích của lao động. Đây là trạng thái bình thường, là quỹ đạo mặc định trong chủ nghĩa tư bản. Các cơ chế ấy tạo ra một lực hút khiến nhà nước xoay quanh lợi ích của giới tư bản. Nhưng cũng như lực hút của Trái đất thì hoàn toàn có thể xây dựng những cơ chế để phần nào thoát khỏi sự chi phối đó. Điều này đòi hỏi phải tạo ra những đối trọng đủ mạnh để nhà nước có thể có phần độc lập với tư bản – qua đó mới có thể đưa ra các chính sách thân thiện hơn với người lao động.
Lực đối trọng quan trọng nhất chính là áp lực đến từ một giai cấp công nhân có tổ chức. Trong lịch sử, chính những lúc khi người lao động đe dọa gây ra sự gián đoạn kinh tế thực sự thì mới là lúc nhà nước mới chịu chuyển hướng theo hướng tiến bộ hơn.
Lực lượng quan trọng nhất trong số này chính là áp lực đến từ một giai cấp công nhân có tổ chức. Trong lịch sử, chính khi người lao động đe dọa gây ra sự gián đoạn kinh tế thực sự thì nhà nước mới chuyển động theo hướng tiến bộ hơn.
Cách đấu tranh giai cấp làm suy yếu sự thiên vị của nhà nước
Hãy nhớ rằng ràng buộc sâu sắc và mạnh mẽ nhất đối với nhà nước chính là sự phụ thuộc có tính cấu trúc của nó vào tư bản. Sự thật cơ bản này đảm bảo rằng các ưu tiên của nhà nước buộc phải phù hợp với các ưu tiên của tư bản. Vậy nên, nếu các ưu tiên của tư bản thay đổi theo hướng sẵn sàng đáp ứng lợi ích của người lao động, thì điều đó sẽ mở ra cơ hội cho những cải cách tiến bộ. Đây chính là lý do vì sao phong trào lao động lại quan trọng. Bởi nếu giới tư bản có quyền lực chính trị vì họ kiểm soát dòng đầu tư, thì chính người lao động mới là những người tạo ra lợi nhuận giúp hiện thực hoá sự đầu tư này. Một phong trào lao động được huy động mạnh mẽ có thể buộc giới chủ phải chọn giữa hai lựa chọn: một là chấp nhận các chính sách xã hội tiến bộ hơn, hai là đối mặt với nguy cơ gián đoạn sản xuất kéo dài, tức đồng nghĩa với việc gián đoạn việc tạo ra lợi nhuận.
Trong những tình huống mà người lao động có thể gây thiệt hại thực sự cho giới chủ thông qua đình công, làm chậm sản xuất, hoặc các hình thức gián đoạn khác, những ràng buộc thông thường đối với nhà nước sẽ bị suy yếu đáng kể. Khi đó, thay đổi có thể đến từ hai hướng. Trước hết, những nhà hoạch định chính sách đồng cảm với người lao động có thể tận dụng sự gián đoạn kinh tế để gây áp lực lên những nhà tài trợ tư bản của họ. Họ có thể lập luận rằng giới chủ, những người từ trước đến nay vẫn chặn đường cải cách, nay cần phải thay đổi lập trường vì điều đó phù hợp với lợi ích của họ. Những chính trị gia vốn quá nhút nhát để đấu tranh cho người lao động giờ đây có thể kêu gọi đến lợi ích của giới chủ để chỉ ra rằng cách duy nhất để khôi phục lợi nhuận là nhượng bộ các yêu cầu của người lao động. Ngược lại, động lực thay đổi cũng có thể đến chính từ giới tư bản. Trong các tình huống đình công và gián đoạn sản xuất mạnh mẽ, từng có những thời điểm một bộ phận trong giới tư bản nhận ra rằng cách duy nhất để khôi phục ổn định là nhượng bộ một số yêu cầu của công nhân. Trong những trường hợp như vậy, phong trào lao động đã tạo ra sự chia rẽ trong nội bộ giai cấp tư bản, kéo một bộ phận trong số họ về phía liên minh tiến bộ đang đấu tranh cho cải cách.
Như vậy, các cải cách trở nên khả thi là bởi giới chủ bị buộc phải nhượng bộ. Và họ bị buộc phải làm điều đó vì sự gián đoạn kinh tế khiến việc tiếp tục ngăn cản cải cách trở nên quá tốn kém. Mà sự gián đoạn này, rốt cuộc, chỉ có thể xảy ra nếu tác nhân xã hội tạo ra dòng doanh thu cho giới chủ quyết định không tiếp tục làm điều đó nữa. Đây chính là lý do vì sao những người cấp tiến luôn nhấn mạnh vai trò trung tâm của đấu tranh giai cấp trong việc thúc đẩy cải cách tiến bộ. Không có tác nhân xã hội nào khác có thể đối trọng hiệu quả với quyền lực cấu trúc của tư bản, vì tư bản không phụ thuộc vào bất kỳ tác nhân xã hội nào khác một cách sâu sắc như vậy.
Nhưng điều này có nghĩa là mỗi khi chúng ta muốn có điều gì đó tích cực từ nhà nước, chúng ta đều cần một phong trào lao động quy mô toàn quốc? Chắc chắn là không, vì điều đó sẽ không xảy ra! Người dân sẽ không tham gia vào các làn sóng đình công hay đổ ra đường hàng tuần hoặc hàng tháng, năm này qua năm khác, chỉ để gây áp lực lên nhà nước. Vậy làm sao người lao động có thể duy trì được một mức độ áp lực nào đó lên nhà nước nếu họ không sẵn sàng tạo ra sự gián đoạn kinh tế ngay khi giới tinh hoa phản kháng?
Cách hiệu quả nhất là thiết lập sự hiện diện trong hệ thống chính trị và trong bộ máy nhà nước thông qua một đảng chính trị đấu tranh vì lợi ích của người lao động—một dạng đảng lao động nào đó. Sự tồn tại của một đảng như vậy, được gắn bó với giai cấp công nhân và tham gia bầu cử, tạo ra một tiếng nói thường trực đại diện cho lợi ích của người lao động. Nhờ có sự hiện diện đó, người lao động không cần phải sử dụng sức mạnh kinh tế của mình mỗi khi có cuộc tranh luận chính sách. Thay vào đó, quyền lực của họ được thể chế hóa trong nhà nước và trở thành một phần của quá trình đàm phán thông thường giữa các nhà quản lý nhà nước. Có thể nói rằng việc có một đảng chuyên trách trong quốc hội tạo ra hiệu ứng cộng hưởng cho bất kỳ sức mạnh nào mà người lao động có được tại nơi làm việc. Các đảng chính trị có khả năng tận dụng tối đa mọi hành động đình công hay huy động để tạo ra lợi thế. Có một lực lượng bên trong nhà nước cam kết thúc đẩy lợi ích của người lao động đến mức tối đa có thể.
Tuy nhiên, ở đây có một lưu ý quan trọng. Sự tồn tại của một đảng lao động giúp người lao động không cần phải xuống đường mỗi khi có một cuộc tranh luận chính sách. Đảng đó sẽ thay mặt họ đấu tranh. Nhưng, dù đảng này không cần gây ra gián đoạn kinh tế thực sự mỗi lần thương lượng chính sách, nó vẫn cần khả năng đe doạ sự gián đoạn đó. Một đảng cầm quyền, hoặc có mặt trong quốc hội, chỉ có thể thương lượng một cách hiệu quả cho người lao động nếu phía sau nó là một phong trào có tổ chức, sẵn sàng ngừng sản xuất khi cần thiết. Đây chính là đối trọng với mối đe dọa mà tư bản thường sử dụng—quyền lực rút vốn đầu tư nếu nhà nước đi theo hướng bất lợi cho họ. Các đại diện của đảng lao động cần phải có khả năng đưa ra một mối đe dọa tương tự từ phía người lao động. Vì vậy, việc có một đảng chính trị không bao giờ có thể thay thế cho việc xây dựng một phong trào công nhân có tổ chức và tinh thần đấu tranh. Quyền lực chính trị của đảng thực ra phụ thuộc vào việc có một phong trào như vậy hậu thuẫn cho nó.
Giới hạn của cải cách
Cuộc tổ chức và đấu tranh giai cấp có thể đi xa đến đâu trong việc dân chủ hóa nhà nước? Liệu nó có thể vô hiệu hóa hoàn toàn quyền lực của tư bản không? Dù chúng ta đã chứng kiến sự tiến bộ to lớn ở những quốc gia có phong trào công nhân tổ chức mạnh mẽ nhất, vẫn tồn tại những giới hạn thực sự đối với nền dân chủ trong một hệ thống tư bản. Hãy nhớ rằng, chừng nào đầu tư còn nằm trong tay tư nhân, nhà nước vẫn phải ưu tiên cho lợi ích của nhóm này. Và quyền kiểm soát tư nhân đối với đầu tư chính là định nghĩa của chủ nghĩa tư bản. Ngay cả những đảng xã hội chủ nghĩa cấp tiến nhất, những phong trào công đoàn mạnh mẽ nhất, cũng buộc phải khuất phục trước thực tế này. Chừng nào các đảng cầm quyền vẫn chọn tôn trọng quyền và đặc quyền của những người sở hữu tư liệu sản xuất—tức các nhà tư bản, ngân hàng, doanh nghiệp nông nghiệp lớn, nhà tài chính—thì họ cũng phải tôn trọng quyền lực cá nhân và xã hội của những người đó. Và ngay cả khi người lao động thành công trong việc bào mòn quyền lực này bằng cách mở rộng dân chủ chính trị và kinh tế, điều này vẫn không thay đổi sự thật là họ không thể làm cho ảnh hưởng giữa người bình thường và người giàu trở nên bình đẳng hơn. Điều này đúng vì việc tôn trọng quyền sở hữu tư nhân cũng đồng nghĩa với việc tôn trọng quyền có tiếng nói lớn hơn mà người giàu hiện đang có trong các quyết định kinh tế.
Rốt cuộc, đó là điều mà chúng ta muốn nói đến khi khẳng định rằng trong chủ nghĩa tư bản, quyền lực thực sự không nằm ở nhà nước mà nằm trong nền kinh tế. Chúng ta có thể dân chủ hóa nhà nước và thông qua đó làm suy yếu đáng kể quyền lực độc đoán của giới tư bản đối với các quyết định kinh tế ảnh hưởng đến đời sống của tất cả mọi người—liên quan đến đầu tư, việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, v.v. Và chúng ta cũng có thể nới lỏng sự kiểm soát của họ đối với chính trị. Nhưng chừng nào ta còn sống trong một hệ thống tư bản, nhà nước vẫn phải tôn trọng quyền lực cấu trúc của tư bản. Và chừng nào điều đó còn đúng thì sẽ luôn tồn tại một giới hạn đối với quá trình dân chủ hóa. Để nền dân chủ thực sự trở thành hiện thực, chúng ta cần mở rộng các quyết định kinh tế thành các cuộc tranh luận và quyết định mang tính xã hội ở mức độ cao hơn rất nhiều. Nhưng mức độ kiểm soát xã hội đối với nền kinh tế cần thiết để đạt được một nền dân chủ thực sự thì đơn giản là không thể có được trong khuôn khổ chủ nghĩa tư bản. Hàm ý ở đây rất rõ ràng—dù một phong trào lao động được huy động và tổ chức tốt có thể dân chủ hóa đời sống xã hội một cách đáng kể và buộc nhà nước phải nhượng bộ, thì chủ nghĩa tư bản vẫn đặt ra những giới hạn thực sự đối với việc làm cho quyền lực chính trị trở nên bình đẳng giữa người giàu và người nghèo. Để thực sự cho phép tất cả mọi người tham gia đầy đủ vào các quyết định ảnh hưởng đến cuộc sống của chính họ, chúng ta cần phải vượt qua chủ nghĩa tư bản.
Nguồn gốc của sự suy tàn
Phần trước đã chứng minh rằng các đảng chính trị cánh tả cần có một phong trào lao động được tổ chức và huy động mạnh mẽ để cung cấp cho họ đòn bẩy chính trị trong nhà nước. Chúng ta cần xem xét điều gì xảy ra khi mối quan hệ đối tác giữa hai bên này không còn tồn tại. Vấn đề này quan trọng vì nó giải thích tại sao các đảng tuyên bố ủng hộ xã hội chủ nghĩa trong những năm gần đây không những đã từ bỏ các chương trình cấp tiến của mình, mà còn đi theo chiều ngược lại—áp đặt các biện pháp “thắt lưng buộc bụng” khắc nghiệt lên chính những người ủng hộ họ.
Không có gì ngạc nhiên khi các đảng xã hội chủ nghĩa hoặc cánh tả lên nắm quyền mà không có sức mạnh giai cấp được tổ chức, và cũng không lạ khi thấy rằng lúc họ cảm nhận sức mạnh đó đang suy yếu thì họ buộc phải thu hẹp các mục tiêu của mình sao cho phù hợp với cán cân quyền lực thực tế. Điều này là bởi vì khi họ cố gắng thông qua chính sách trong Quốc hội hoặc Nghị viện, các đối thủ chính trị của họ không có nhiều lý do để đồng ý. Trong những tình huống như vậy, các đảng bảo thủ biết rằng các đảng cánh tả không có đủ lực lượng để tạo đòn bẩy chính trị, và điều này làm suy yếu vị thế đàm phán của các đảng cánh tả. Những phần tử bảo thủ hơn trong chính các đảng cánh tả giờ đây có thể lập luận rằng cần phải thu hẹp tham vọng cấp tiến nhân danh “chủ nghĩa hiện thực”—và họ đúng, bởi vì những chương trình chính sách từng khả thi khi có sức mạnh giai cấp công nhân hậu thuẫn, giờ đây thực sự đã vượt ngoài tầm với. Các đảng cánh tả trong tình huống như vậy sẽ thấy rằng áp lực đến từ giới tư bản trở nên nguy hiểm hơn nhiều, vì chính giới tư bản không còn phải sợ một sự phản công từ phía công nhân có tổ chức. Dần dần, các đảng này phải điều chỉnh chương trình nghị sự của mình sao cho gần với sở thích của giới kinh doanh—vì đó là điều mà cán cân quyền lực đòi hỏi.
Việc các đảng lao động trượt dần về phía cánh hữu có thể diễn ra theo hai con đường khác nhau. Một là khi giai cấp công nhân, tức những người ủng hộ họ nhiệt thành nhất, bị xói mòn do những thay đổi về kinh tế hoặc các cuộc tấn công chính trị. Một ví dụ là các đảng từng được giai cấp công nhân trong ngành sản xuất công nghiệp ủng hộ sẽ phát hiện rằng, do quá trình phi công nghiệp hóa, những thành viên công đoàn hăng hái và đấu tranh nhất của họ bị thất nghiệp hoặc chuyển sang những ngành không có tổ chức công đoàn. Trong trường hợp này, một đảng lao động, dù có tham vọng đến đâu, cũng sẽ thấy mình đã mất phần lớn sức mạnh từng giúp họ đấu tranh cho cải cách. Nhưng việc mất đi cơ sở giai cấp công nhân cũng có thể đến từ cuộc đấu tranh giai cấp kiểu cũ, như ở Hoa Kỳ trong những năm 1980, khi tỷ lệ thành viên công đoàn sụt giảm nghiêm trọng chỉ trong vài năm do bị giới chủ tấn công bằng biện pháp chính trị. Kết quả về mặt chính trị là điều có thể dự đoán trước. Phe bảo thủ của Đảng Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của Bill Clinton và những người khác, đã kéo chương trình hành động của mình theo hướng thân doanh nghiệp rõ ràng và đã làm im tiếng những nhà phê bình cấp tiến hơn, chủ yếu dưới chiêu bài chủ nghĩa hiện thực chính trị.
Con đường thứ hai là trường hợp của nhiều nền dân chủ xã hội châu Âu, trong đó biến chuyển kinh tế cũng đóng một vai trò. Nhưng trong trường hợp này, tác động lại được khuếch đại bởi sự bảo thủ ngày càng tăng trong giới lãnh đạo chính trị, cả trong các đảng và trong công đoàn. Việc xây dựng nhà nước phúc lợi ở các quốc gia này từng được thực hiện dưới áp lực từ phong trào công nhân mạnh mẽ vào những năm 1930 và 1940. Nhưng ngay từ những năm đầu sau Thế chiến II, các công đoàn ở châu Âu đã rơi vào tay các lãnh đạo bảo thủ hơn, những người lo ngại về việc duy trì tình trạng hoà hoãn trong lao động sau nhiều năm chiến tranh đẫm máu và khủng hoảng kinh tế. Tinh thần bảo thủ trong công đoàn này được củng cố bởi các đồng minh trong đảng phái chính trị, những người không chỉ lắng nghe giới lãnh đạo công đoàn mà còn chịu áp lực từ giới tư bản nhằm khôi phục nền tảng tăng trưởng kinh tế. Kết quả là các liên đoàn công đoàn lớn nhất và các đảng chính trị lớn nhất của cánh tả đã thông qua một chương trình hợp tác dè dặt với giới chủ trong suốt những năm 1950 và 1960.
Mặc dù cách tiếp cận hợp tác này đã bị giai cấp công nhân châu Âu bác bỏ trong một khoảng thời gian ngắn vào cuối những năm 1960, chương trình nghị sự bảo thủ lại nổi lên trở lại vào thời Reagan và Thatcher. Đến thập niên 1980, các đảng lao động đã phần lớn đánh mất hoặc quên đi truyền thống công đoàn đấu tranh. Trong khi đó, khả năng phản kháng của công đoàn cũng nhanh chóng suy yếu, do các bộ phận người lao động có công đoàn bảo vệ đang suy giảm nhanh chóng. Không có gì đáng ngạc nhiên khi các đảng này nhanh chóng chuyển dịch sang cánh hữu, đến mức mà vào những năm 2000, dù vẫn có cơ sở công nhân, chương trình chính trị của họ đã tiệm cận rất gần với các đảng trung dung dòng chính.
Như vậy, chúng ta có thể thấy bốn kịch bản có thể xảy ra trong chủ nghĩa tư bản liên quan đến nhà nước (xem Bảng 2).
Bảng 2. Tình huống có thể xảy ra trong chủ nghĩa tư bản.
| Đảng lao động |
|
Phong trào lao động | |
| Không | Có | ||
| Không | 1. Không có đảng lao động và không có phong trào lao động. | 2. Không có đảng lao động nhưng có phong trào lao động. | |
| Có | 3. Có đảng lao động nhưng không có phong trào lao động | 4. Có đảng lao động và có phong trào lao động | |
Ô phía trên bên trái của bảng này biểu thị một nhà nước không có phong trào lao động và không có đảng lao động. Đây là sự kết hợp tồi tệ nhất đối với cải cách tiến bộ, vì tình huống này không tồn tại điều kiện nào trong hai điều kiện cần thiết để gây áp lực lên nhà nước. Chúng ta nên kỳ vọng những quốc gia nằm trong ô này sẽ là những quốc gia có chương trình chính sách bảo thủ nhất và chính phủ ít tiếp nhận các yêu cầu của người nghèo nhất. Trong thế giới công nghiệp phát triển, điều này mô tả nước Mỹ.
Ô phía trên bên phải biểu thị một nhà nước trong đó phong trào lao động gây áp lực từ bên ngoài, nhưng không có sự hỗ trợ từ một đảng bên trong nhà nước. Trường hợp điển hình trong lịch sử lại một lần nữa là Hoa Kỳ kể từ những năm 1980, nhưng cũng có thể thấy vào cuối những năm 1930, khi trong nước lúc đó có tồn tại một phong trào lao động khổng lồ và có tổ chức, buộc Đảng Dân chủ phải thông qua các cải cách phúc lợi xã hội. Lưu ý rằng dù làn sóng lao động này đã đẩy nhà nước theo hướng tiến bộ hơn, động lực đó vẫn yếu hơn nhiều so với trường hợp có một đảng lao động hiện diện để tận dụng cán cân giai cấp trong xã hội. Trong khi một đảng lao động sẽ làm mọi cách để khai thác tối đa đòn bẩy từ sức mạnh của giai cấp công nhân tổ chức thì Đảng Dân chủ đã bị lôi kéo đi theo hướng cấp tiến một cách miễn cưỡng và chỉ làm những gì họ buộc phải làm. Trên thực tế, cánh hữu của đảng trong Quốc hội đã tích cực phá hoại các yêu sách đến từ phong trào lao động và khá thành công trong nỗ lực này. Đến năm 1947, khi phần cấp tiến nhất của phong trào lao động đã bị dập tắt, Quốc hội đã có thể thông qua gói chính sách đầu tiên và quan trọng nhất nhằm đảo ngược Thỏa thuận Mới (New Deal), đó là Đạo luật Taft-Hartley, tước đi nhiều quyền pháp lý mà Đạo luật Wagner trước đó từng bảo vệ cho lao động. Sự suy giảm nhanh chóng ảnh hưởng của phong trào lao động này là hệ quả trực tiếp của việc Đảng Dân chủ không bao giờ được chuyển hóa thành một đảng lao động. Họ vẫn là một đảng của giới doanh nghiệp, dành một phần không gian cho lao động nhưng luôn đảm bảo rằng họ giữ lao động ở vị thế lệ thuộc. Ngay khi mối đe dọa về sự bất ổn lắng xuống sau năm 1938, các nhà hoạch định chính sách được giới tư bản hậu thuẫn đã bắt đầu dỡ bỏ dần những thành quả đạt được trong thập niên 1930.
Những bất lợi của tình huống nêu trên sẽ rõ hơn khi chúng ta so sánh với một nhà nước có cả phong trào lao động và đảng lao động. Đây là thế cân bằng chính trị ở châu Âu trong những năm 1930 và 1940, khi mô hình dân chủ xã hội được hình thành và tham vọng hơn nhiều so với Thỏa thuận Mới của Roosevelt. Bắt đầu từ những năm sau cuộc Đại khủng hoảng và kéo dài đến giai đoạn sau Thế chiến II, các phong trào lao động châu Âu phát triển mạnh mẽ, đồng thời có các đảng riêng giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử và nắm quyền. Nhưng cách họ làm việc không giống Đảng Dân chủ ở Hoa Kỳ. Nếu đảng Dân chủ Mỹ vốn chỉ làm những gì tối thiểu cần thiết thì các đảng cánh tả ở châu Âu—các Công đảng và các đảng Xã hội chủ nghĩa và Cộng sản—đã tận dụng tối đa đòn bẩy mà phong trào công nhân tạo ra. Kết quả là Tây Âu đã xây dựng được những nhà nước phúc lợi sâu rộng hơn, hào phóng hơn và bền vững hơn nhiều so với mô hình Mỹ.
Ô dưới bên trái của bảng này phản ánh tình hình chính trị ở châu Âu từ thập niên 1980 trở đi. Đến thời điểm này, phong trào lao động có tổ chức đang thoái lui ở hầu hết châu lục, mật độ công đoàn giảm sút, và các công đoàn lâu đời chuyển sang thế phòng thủ. Khả năng gây gián đoạn của họ bị suy yếu nghiêm trọng, nghĩa là các đảng cánh tả gắn liền với họ không còn chịu áp lực từ giai cấp công nhân. Tất cả áp lực giờ đây đến từ giới tư bản. Không có gì ngạc nhiên khi quá trình dỡ bỏ dần nhà nước phúc lợi châu Âu bắt đầu từ đây. Nó bắt đầu chậm, vì dù công đoàn suy yếu, họ vẫn còn là một lực lượng đáng gờm; và dù các đảng cánh tả đã bảo thủ hơn nhưng họ vẫn có truyền thống dân chủ xã hội mạnh mẽ. Nhưng đến đầu những năm 2000, sự chuyển dịch đã rất rõ ràng và diễn ra ngày càng nhanh. Đến lúc này, vấn đề không còn là việc các đảng cánh tả không có cơ sở quyền lực để bảo vệ nhà nước phúc lợi, mà vấn đề nằm ở sự thật rằng văn hóa nội bộ của họ đã chuyển dịch đáng kể về phía hệ tư tưởng của các đảng dòng chính.
Thách thức của cánh tả hiện nay là tạo ra một bước ngoặt để đi đến kịch bản có cả Đảng Lao động và Phong trào Lao động. Ở Hoa Kỳ, đây là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn. Các phong trào lao động châu Âu ít nhất còn có vài đảng cánh tả mà họ có thể hình dung đến việc cải tổ—như trường hợp của Công Đảng ở Anh. Dù cuộc nổi dậy trong đảng do Jeremy Corbyn dẫn đầu đã thất bại nặng nề, phe cánh tả trong Công Đảng phần nào vẫn có thể hình dung việc giành quyền kiểm soát đảng và tái kết nối với các công đoàn, vì họ có bề dày kinh nghiệm kéo dài một thế kỷ. Ngược lại, các nhà tổ chức lao động cấp tiến cũng có thể suy nghĩ về việc hợp tác với một Công Đảng đã được cải tổ để thúc đẩy chương trình chính sách tiến bộ. Nhưng ở Hoa Kỳ kịch bản khả dĩ nhất là chuyển từ ô số 1 sang ô số 2. Kể từ chiến thắng của Joe Biden năm 2020, đã có một số tiến bộ nhất định, cụ thể khi “phe Sanders” trong đảng giành được một phần ảnh hưởng nhất định đối với chính sách—ảnh hưởng dân chủ xã hội đầu tiên trong Đảng Dân chủ sau hơn 50 năm. Nhưng ảnh hưởng này vẫn còn rất nhỏ, vì nó chỉ là một phe phái nhỏ trong đảng, và gần như không có mối liên hệ nào với các lực lượng xã hội có tổ chức. Để Hoa Kỳ có thể nhảy vọt sang ô số 4 sẽ cần một sự chuyển dịch mang tính địa chấn trong chính trị kinh tế, chưa từng thấy kể từ những năm 1930. Điều đó không phải là không thể, nhưng xác suất vẫn còn rất thấp.
Kết luận
Nhà nước trong xã hội tư bản \không thể trung lập về chính trị. Nó không giống như hình ảnh nổi tiếng của Nữ thần Công lý, người cầm cán cân để cân nhắc các yêu cầu khác nhau một cách công bằng, không thiên vị. Thay vào đó, chính cấu trúc của chủ nghĩa tư bản khiến cho nhà nước luôn thiên về những người nắm giữ tài sản và tư bản. Sự thiên vị này có một ý nghĩa chính trị rất quan trọng: nếu không có một lực lượng đối trọng nào đó, thì chính phủ trong một quốc gia tư bản sẽ có xu hướng củng cố những bất bình đẳng đang tồn tại, thay vì cố gắng giảm bớt chúng; sẽ bảo vệ quyền lực và đặc quyền, thay vì trung hòa chúng; và sẽ tạo ra các rào cản cho cải cách xã hội, thay vì làm cho việc cải cách trở nên dễ dàng hơn.
Điều này có nghĩa là: nếu muốn sử dụng quyền lực nhà nước để phục vụ cho những mục tiêu tiến bộ, thì bắt buộc phải có một lực lượng đối trọng với sức mạnh của giới tư bản. Lực lượng quan trọng nhất chính là người lao động, vì họ nằm ngay trong trung tâm của hệ thống. Nhưng, câu hỏi đặt ra là: nếu không có một phong trào lao động được tổ chức và huy động mạnh mẽ, thì liệu có điều gì có thể thúc đẩy nhà nước hành động theo hướng tiến bộ hay không? Còn những hình thức gây áp lực khác thì sao—những phong trào quần chúng rộng lớn, trong đó giai cấp lao động không phải là lực lượng chính? Đây là một câu hỏi rất quan trọng, vì trong thời gian gần đây, chúng ta đã chứng kiến những cuộc huy động lớn xoay quanh các chiến dịch bầu cử—ví dụ như phong trào ủng hộ Bernie Sanders ở Mỹ và Jeremy Corbyn ở Anh. Những chiến dịch này đã tạo ra sự nhiệt huyết lớn lao và giải phóng nhiều năng lượng chính trị, vượt ra khỏi khuôn khổ của các cuộc bầu cử thông thường.
Câu trả lời là: những cuộc huy động như vậy thật sự có tiềm năng lớn theo hai cách. Thứ nhất, mặc dù không xuất phát từ phong trào lao động, chúng vẫn buộc giới tinh hoa chính trị phải chú ý, vì chúng có thể gây ra tổn thất. Chúng có thể làm rung chuyển sự tự mãn của các nhà hoạch định chính sách, buộc họ phải lo lắng nhiều hơn về nguy cơ bị thách thức trong các cuộc bầu cử. Những nhà lập pháp vốn thường làm ngơ trước ý kiến của cử tri nay phải cân nhắc khả năng bị mất ghế. Còn những chính trị gia bên lề, vốn trước kia không có cơ hội trúng cử, nay có thể trở nên khả thi hơn nếu biết tận dụng sự thay đổi trong tâm lý cử tri. Vì vậy, các cuộc huy động kiểu này rất quan trọng, vì chúng có điểm giống với các phong trào lao động: chúng gây ra một mức chi phí nhất định cho giới tinh hoa nếu họ phớt lờ người dân.
Tuy nhiên, việc những cuộc huy động này có thể đẩy chính sách đi xa đến đâu lại là chuyện khác. Sau cùng thì nếu những phong trào này không kết nối được với phong trào lao động thì chúng sẽ bị giới hạn nghiêm trọng. Trọng tâm của chúng là đưa những người “tốt hơn” vào vị trí cầm quyền—điều này quan trọng, nhưng những người được bầu đó rồi cũng sẽ rơi vào những ràng buộc thể chế giống như người tiền nhiệm của họ. Họ sẽ phải đối mặt với áp lực và quyền lực mà giới giàu có nắm giữ. Và bởi vì các phong trào quần chúng này không thực sự làm gián đoạn nền kinh tế, nên quyền lực và đòn bẩy của giới tư bản vẫn nguyên vẹn. Họ vẫn tiếp tục gây áp lực lên các nhà lập pháp, có thể cẩn trọng hơn và ít quyết liệt hơn một chút, nhưng vẫn đủ để làm giới hạn khả năng cải cách. Vì vậy, tác động của các phong trào kiểu này lên chính sách công chỉ xảy ra ở những lĩnh vực mà giới tư bản không phản đối quá mạnh, còn những mục tiêu chính sách tham vọng hơn thì vẫn bị gạt ra ngoài.
Tuy vậy, điều đó không có nghĩa là ta nên coi thường các phong trào bầu cử. Và đây chính là tiềm năng lớn thứ hai. Trong bối cảnh hiện nay, khi phong trào lao động yếu ớt và mất tinh thần, thì một phong trào bầu cử cấp tiến, năng động có thể đóng vai trò như một chất xúc tác cho phong trào lao động. Khi có quá nhiều người dân tham gia chính trị, khi dân chúng được truyền cảm hứng xung quanh các vấn đề tiến bộ, thì điều đó có thể giúp đảo ngược cảm giác cô lập và bi quan trong phong trào công nhân. Các công đoàn có thể cảm nhận rằng công chúng đang đứng về phía họ, đòi hỏi những điều tương tự mà họ vẫn luôn đấu tranh. Trong một bối cảnh chính trị như vậy, giới chủ có thể cảm thấy cần phải thương lượng hơn, hoặc ít nhất cũng không dám quá cứng rắn. Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực dịch vụ, nơi mà các chủ doanh nghiệp thường lợi dụng dư luận để làm cho các công đoàn trông giống như những nhóm lợi ích nhỏ hẹp, chỉ lo cho bản thân mình mà gây thiệt hại cho xã hội, tức giáo viên, nhân viên giao thông, nhân viên bưu điện, v.v. Nhưng khi chính công chúng bắt đầu đòi hỏi, chẳng hạn như thêm ngân sách cho trường học hay giao thông tốt hơn, thì công đoàn sẽ cảm thấy bớt cô đơn và việc thách thức giới chủ cũng bớt đáng sợ hơn.
Vì thế, dù con đường đi đến cải cách tiến bộ phải đi qua phong trào công nhân, nhưng không nhất thiết phải bắt đầu từ đó. Năng lượng để tổ chức giai cấp công nhân có thể đến từ các phong trào và nguồn lực khác. Điều quan trọng là những phong trào này phải rộng lớn, tham vọng và bao hàm nhiều tầng lớp; và phải đặt câu hỏi về cách quyền lực và tài nguyên đang được phân phối. Chúng cần phải táo bạo và nhắm trực tiếp vào các trung tâm quyền lực. Đây chính là điểm chung của nhiều phong trào bùng nổ gần đây trên thế giới—như Occupy Wall Street, Mùa xuân Ả Rập, chiến dịch của Bernie Sanders, và phong trào ủng hộ Corbyn, để kể ra vài cái tên nổi bật. Không phong trào nào trong số này xuất phát từ phong trào lao động. Nhưng tất cả đều có ảnh hưởng đến văn hóa chính trị, nâng cao tinh thần và khát vọng chính trị, và bằng cách nào đó, chúng đều giúp hồi sinh một phần phong trào công nhân. Chúng góp phần tạo ra cảm giác rằng có lẽ “đêm đen dài” của chủ nghĩa tân tự do đang dần kết thúc. Và có thể đúng là như vậy. Nhưng việc ta có thể tiến xa đến đâu sẽ phụ thuộc, sau cùng, vào việc ta có thể tập hợp được bao nhiêu sức mạnh—chống lại nhà nước và giai cấp nhà đầu tư đứng sau nó.
Admin của VNYM










