ABC VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN – PHẦN 1: Hiểu chủ nghĩa tư bản
ABC VỀ CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
PHẦN 1
Hiểu chủ nghĩa tư bản
Giới thiệu
Đối với phần lớn người Mỹ, cuộc sống thường ngày trong những năm xảy ra đại dịch COVID không khác gì một cuộc đua chướng ngại vật. Khi Pew, một trong những cơ quan thăm dò hàng đầu Mỹ, hỏi người dân về cảm giác an toàn tài chính của họ vào năm 2015, họ phát hiện ra rằng 50% số người được thăm dò cho biết họ cảm thấy vô cùng bất an về tình hình tài chính của mình. Một con số đáng kinh ngạc là 71% cho rằng họ không thể thanh toán hết hóa đơn và 70% cho biết họ không có đủ tiền tiết kiệm để nghỉ hưu. Cảm giác bất an về tương lai đè nặng lên tâm trí người Mỹ đến mức 92% số người được khảo sát nói rằng họ sẵn sàng từ bỏ khả năng di chuyển kinh tế để đổi lấy an ninh kinh tế. Điều này không có nghĩa là những người được hỏi không muốn cải thiện tình hình kinh tế của mình. Đúng hơn là họ coi tình hình kinh tế hiện tại của mình bấp bênh đến mức họ sẽ từ bỏ những lợi ích kinh tế trong tương lai để có được cảm giác ổn định ngay bây giờ.
Tuy nhiên thì không phải ai cũng chật vật như vậy. Trên thực tế, đối với những người ở tầng lớp thượng lưu của xã hội Mỹ, cuộc sống chưa bao giờ tốt đẹp đến thế. Đối với những gia đình giàu có nhất nước Mỹ, 40 năm qua giống như một bữa tiệc không bao giờ ngừng nghỉ. Ngay cả khi thu nhập của đại đa số đã trì trệ thì 10% những người giàu nhất vẫn ngày càng giàu hơn. Ở Hoa Kỳ thì khoảng 86% tổng mức tăng tài sản cá nhân từ năm 1983 đến năm 2019 thuộc về nhóm người này, trong khi con số này chỉ là 5% đối với 80% dân số có thu nhập thấp nhất. Sự chênh lệch sẽ càng lớn nếu bạn càng đi lên cao. Trong top 10% đó, phần lớn lợi nhuận sẽ vào tay nhóm “một phần trăm” khét tiếng (con số của nhóm này là 41,6%), trong khi top 5% thì chiếm gọn một phần ba tổng mức tăng trong những năm đó. Đối với thu nhập thì tình hình cũng y hệt như vậy. Nhóm một phần trăm đã lấy đi 1/3 tổng thu nhập mới từ năm 1983 đến năm 2019, và nhóm 10% thì chiếm gần 70%.
Nói cách khác, ngay cả khi nền kinh tế đã cải thiện và hiệu quả hơn kể từ năm 1980 thì gần như tất cả mọi lợi ích lại đều rơi vào tay những người vốn đã giàu sẵn. Bất kỳ người tử tế nào cũng sẽ đồng ý rằng các con số này cho thấy có điều gì đó không đúng. Tại sao một xã hội với nguồn tài nguyên và sự giàu có khổng lồ như vậy lại ban cho những người ở tầng lớp thượng lưu đủ mọi thứ, trong khi hàng triệu người phải chật vật chỉ để tồn tại?
Các phương tiện truyền thông chính thống và những người nổi tiếng đều có lời giải thích. Có hai lời giải thích thường hay được nhắc lại nhất. Lý do đầu tiên cho rằng điều này xảy ra do lỗi của các cá nhân. Ví dụ minh họa rõ nhất là câu nói sau đây, do ứng cử viên tổng thống Đảng Cộng hòa Herman Cain đã nói trong chiến dịch tranh cử sơ bộ năm 2012: “Nếu không có việc làm mà lại không giàu có thì chẳng trách được ai ngoài mình ra đâu!” Điều Cain muốn nói là không có gì ngăn cản bạn có được một cuộc sống tử tế ngoài sự chăm chỉ của mình ra. Vì vậy, nếu bạn rơi vào cảnh nghèo khó, phải làm một công việc tồi tệ, hay đơn giản là thất nghiệp, đó là vì bạn không thể hoặc không muốn nỗ lực để thành công. Bạn hoặc từ chối làm thêm giờ, hoặc từ chối chấp nhận tiền lương và số giờ đi kèm với công việc. Bạn quá lười biếng hoặc tự đề cao bản thân quá. Nếu vậy thì tất nhiên bạn chẳng có ai khác để đổ lỗi ngoài chính mình.
Lý do thứ hai cho rằng chính phủ có lỗi. Cụ thể thì luận điểm này cho rằng các vấn đề xã hội nảy sinh do chính phủ liên tục can thiệp vào thị trường, ngăn cản nó hoạt động một cách tự nhiên. Nếu để yên thì thị trường sẽ vừa công bằng và vừa hiệu quả. Những ai muốn làm việc thì sẽ tìm được việc làm; nếu ai có kỹ năng đặc biệt thì thị trường sẽ ghi nhận và thưởng họ đúng mức; nếu họ có ý tưởng kiếm tiền thì ngân hàng sẽ cấp tín dụng để họ bắt đầu kinh doanh và trở nên giàu có. Thị trường có xu hướng tự điều chỉnh và đạt trạng thái toàn dụng lao động, và thị trường cũng sẽ đối đãi người có tài một cách xứng đáng. Vấn đề nằm ở việc các chính phủ liên tục can dự vào quá trình vận hành của thị trường. Các chính trị gia và các nhóm lợi ích đặc biệt liên tục áp đặt các quy định nhằm dập tắt sáng kiến kinh doanh; họ triển khai các chương trình phúc lợi khiến mọi người bị phụ thuộc vào trợ cấp; họ không để hàng hóa tự do lưu chuyển qua biên giới; và cứ tiếp tục như thế. Do đó, giải pháp là tách chính phủ ra khỏi nền kinh tế và để thị trường tự hoạt động một cách tự nhiên.
Điểm chung của cả hai quan điểm này là chúng đều cho rằng bản thân chủ nghĩa tư bản không thể chịu trách nhiệm về tình trạng nghèo đói, thất nghiệp, bất an và vô vọng mà hàng triệu người đang phải chịu đựng. Thị trường không nhốt mọi người vào tình trạng bất an và bất lực, mà lại đại diện cho tự do và cơ hội. Mọi người được phép chọn cách sống, cách phát triển tài năng của mình, chọn xem mình làm việc cho ai, hoặc có nên làm việc hay không. Tất cả những lựa chọn này đều được thực hiện một cách tự do. Thị trường không hề ngăn chặn con người có được cuộc sống tử tế, vì thị trường về cơ bản chỉ là tổng thể những lựa chọn mà con người đã đưa ra một cách tự do. Ai làm việc thì sẽ được đền bù xứng đáng cho sự chủ động và tài năng của mình. Nếu không làm việc thì sẽ phải gánh chịu hậu quả. Do vậy nên nếu gặp khó khăn thì đó là do thiếu sót của bản thân hoặc do sự can thiệp từ bên ngoài.
Có thể dễ dàng nhận thấy rằng đây là góc nhìn từ dinh thự nhìn xuống. Đây là hệ tư tưởng của những người chiến thắng, những người bơi trong phần thưởng mà thị trường đã đem lại cho họ. Theo quan điểm này, nếu ai đó giàu có thì chắc chắn phải là do họ làm việc chăm chỉ chứ không phải vì họ có lợi thế về giai cấp; tài sản của họ phản ánh kỹ năng và tài năng của họ chứ không phải là thứ họ có được nhờ quyền lực họ áp đặt lên công nhân của mình. Áp bức và bóc lột không tồn tại, chỉ có tự do lựa chọn và cơ hội. Trong vài thập kỷ qua, lời giải thích về sự khốn khổ của con người không gặp phải nhiều lời phản bác. Trong khoảng thời gian tưởng chừng như kéo dài cả cuộc đời, có vẻ như mọi người không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thu mình và cố gắng tồn tại, ngay cả khi họ nghi ngờ về những gì mà TV và giáo viên đang miêu tả về cách xã hội vận hành. Sự tôn thờ thị trường dường như át đi mọi quan điểm khác.
Nhưng trong vài năm qua, rõ ràng là mọi người không còn tin vào thông điệp này nữa. Hệ tư tưởng thị trường chính thống mà Margaret Thatcher tuyên bố rằng “không có lựa chọn nào thay thế được” dường như chỉ mới ra đời hôm qua, nhưng đến nay thì đang bị chất vấn. Các chính trị gia từng công khai quảng bá những ưu điểm của thị trường tự do và thương mại mở, nhưng đến giờ thì không còn làm vậy nữa. Cuộc tranh luận không còn là liệu thị trường có nên bị kiểm soát hay không, mà là nó phải bị kiểm soát ở mức độ nào. Chủ nghĩa xã hội từng là vấn đề cấm kỵ nhưng giờ đã bùng nổ trên chính trường. Theo một cuộc thăm dò của Axios/Momentive, 41% người Mỹ có cái nhìn tích cực về chủ nghĩa xã hội vào năm 2021. Trong nhóm nhân khẩu học ở độ tuổi 18–24 thì con số này là 51%. Một “lựa chọn thay thế”, theo lời của Thatcher, chính là điều mà mọi người dường như đang mong muốn. Vào năm 2015, cụm từ được tìm kiếm thường xuyên nhất trên công cụ tìm kiếm của Google là “chủ nghĩa xã hội”!
Chủ nghĩa xã hội đã trở lại chính trường vì người lao động ngày càng có ý thức rằng những vấn đề họ gặp phải không bắt nguồn từ việc làm của đảng này hay đảng kia, hay là do chính trị gia này nọ, mà nó xuất phát từ chính cách thức vận hành của cả hệ thống. Và trên thực tế, trực giác này của hàng tỷ người không còn là trực giác nữa, mà đã là sự thật. Nguyên nhân đúng là đến từ cả hệ thống, và nếu chúng ta muốn cải thiện tình hình thì điều quan trọng là phải hiểu cách thức hoạt động của hệ thống đó.
Sau đây là năm luận điểm chính mà chương này sẽ đề cập tới:
Chủ nghĩa tư bản không chỉ đơn thuần là một tập hợp các cá nhân, mà thực chất nó lại là các cá nhân được nhóm lại trong các giai cấp khác nhau.
Đối với phần lớn người dân thì thị trường không phải là sân chơi công bằng. Thay vào đó thì họ bị phân chia thành các giai cấp khác nhau và phải đối mặt với những điều kiện kinh tế rất khác nhau. Tiêu chí để xếp mọi người vào các giai cấp này là liệu họ có sở hữu tư liệu sản xuất hay không, tức đất đai, nhà máy, ngân hàng, khách sạn, v.v. Đại đa số người dân đều không sở hữu những thứ này. Cách duy nhất họ có thể tồn tại được là phải làm thuê cho những người sở hữu tư liệu sản xuất, được gọi là nhà tư bản. Vì vậy nên hầu hết tất cả mọi người trong chủ nghĩa tư bản đều là người lao động, và họ không có lựa chọn nào khác ngoài việc bán sức lao động của mình cho các nhà tư bản; còn các nhà tư bản thì là người bán hàng hóa và dịch vụ mà họ sản xuất ra được nhờ việc thuê công nhân. Cả hai nhóm đều buộc phải bán sản phẩm ra thị trường, nhưng những thứ họ bán ra lại rất khác nhau. Và điều này có nghĩa là họ có lợi ích khác nhau.
Các nhà tư bản và công nhân có những lợi ích khác nhau.
Động cơ của các nhà tư bản là tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng để thành công thì họ thường phải liên tục gây chiến với chính nhân viên của mình. Điều mà mọi người sử dụng lao động đều cố gắng đạt được là sản xuất với giá rẻ nhất có thể, và ép nhân viên của mình phải làm việc chăm hết mức có thể đối với mức lương hiện tại.. Điều này đương nhiên có nghĩa là mỗi người sử dụng lao động đều cố gắng giữ mức lương của nhân viên ở mức thấp nhất có thể, đồng thời đổi lại họ cũng phải giao cho họ nhiều việc hết mức có thể. Điều này đi ngược lại mong muốn của người lao động. Nếu người chủ muốn giữ mức lương ở mức thấp thì người công nhân lại muốn đặt mức lương đó ở mức cao nhất có thể; và trong khi người chủ muốn đặt ra nhịp độ làm việc cao nhất có thể thì người công nhân lại muốn giữ nó ở mức hợp lý. Nhưng vì người sử dụng lao động là bên mạnh hơn nên người lao động phải chấp nhận các điều khoản đó, mặc dù điều này làm tổn hại đến chính phúc lợi của họ.
Các nhà tư bản không bị thúc đẩy bởi lòng tham mà bởi áp lực thị trường.
Các nhà tư bản không gây hại cho nhân viên của mình vì ác tâm hay tham lam. Động lực của họ đến từ thực tế khốc liệt của sự cạnh tranh trên thị trường. Nếu một nhà tư bản không sản xuất ở mức giá thấp nhất thì người này biết rằng mình sẽ mất khách hàng, và nếu điều đó tiếp tục thì công ty sẽ mất tiền. Vì vậy nhà tư bản phải giữ giá bán sản phẩm của mình ở mức thấp nhất có thể. Nhưng nếu hạ giá bán thì nhà tư bản cũng phải giảm chi phí, nếu không thì sẽ không kiếm được tiền. Do đó, nhà tư bản cố gắng đầu tư số tiền ít nhất có thể cho nguyên liệu đầu vào – gồm máy móc và nguyên liệu thô, cũng như tiền lương trả cho nhân viên. Vì vậy, mọi nhà tư bản đều không ngừng cố gắng vắt kiệt tối đa giá trị của từng đồng tiền mà mình đã chi ra, và cũng đồng nghĩa là họ không ngừng cố gắng vắt kiệt chính công nhân của mình. Phải làm như vậy thì doanh nghiệp mới tồn tại được trên thị trường. Lòng tham không liên quan gì ở đây.
Hệ thống này tạo ra khối tài sản khổng lồ nhưng cũng tạo ra nỗi đau khổ lớn không kém cho đại đa số người dân.
Đó là lý do tại sao tư bản tạo ra khối lượng tài sản khổng lồ như thế, nhưng sự phân chia khối của cải này lại chênh lệch tới vậy. Theo lẽ thông thường thì người lao động đáng lẽ ra phải hưởng lợi mỗi khi năng suất tăng lên, vì điều đó đồng nghĩa với việc tăng lương và giảm thời gian làm việc. Nhưng điều này không xảy ra trong thị trường tự do. Ngay cả khi năng suất ngày càng tăng, người sử dụng lao động vẫn phản ứng bằng cách yêu cầu nhân viên làm việc chăm hơn và lâu hơn. Và ngay cả khi lợi nhuận tăng lên thì không có gì đảm bảo rằng nó sẽ chảy về người lao động dưới dạng tiền lương cao hơn. Người sử dụng lao động sẽ muốn giữ lại khoản lợi nhuận tăng lên này để trả cho cổ đông, tái đầu tư nó, hoặc bỏ nó vào túi của chính mình. Điều này có nghĩa là ngay cả khi nền kinh tế phát triển hơn thì người lao động cũng không nhất thiết được hưởng lợi từ nó. Họ có thể bị mắc kẹt với mức lương trì trệ, công việc không ổn định, làm việc nhiều giờ và sức khỏe kém. Nếu để yên thì bản thân hệ thống sẽ tạo ra của cải khổng lồ cho thiểu số và gây đau khổ cho đại đa số.
Người lao động chỉ có thể đòi được quyền lợi nếu họ đoàn kết lại và hành động tập thể.
Lý do một bên giàu có và một bên thì lại khốn cùng thì rất đơn giản – người lao động phụ thuộc vào người chủ lao động, vì vậy họ phải chấp nhận những điều khoản mà người chủ lao động đưa ra. Ai làm chủ thì người đó có quyền quyết định. Mặc dù cả nhà tư bản và công nhân đều cần đến nhau nhưng họ không bình đẳng. Đúng, chủ nhà máy phải có công nhân, công nhân cần có việc làm. Nghe có vẻ như một món hời cho cả hai. Nhưng trên thực tế, người lao động lúc nào cũng sẽ tuyệt vọng hơn người sử dụng lao động. Người lao động thường có rất ít tiền tiết kiệm, lương của họ thì chỉ vừa đủ để trang trải cuộc sống, và họ cũng biết rằng nếu mình không đồng ý với mức lương được đưa ra thì sẽ có rất nhiều người khác sẵn sàng chấp nhận nó, vì họ tuyệt vọng hơn rất nhiều. Người lao động yếu thế hơn là bởi vì họ có thể dễ dàng bị thay thế nếu từ chối lời đề nghị. Đối với người lao động, giải pháp duy nhất cho vấn đề nan giải này là phải làm sao để họ khó bị thay thế nếu họ từ chối lời đề nghị của người sử dụng lao động. Cách duy nhất để làm được điều này một cách nhất quán là đoàn kết lại với nhau. Nói cách khác, cá nhân người lao động có thể bảo vệ lợi ích của mình bằng cách thành lập các tổ chức tập thể. Đây là bài học họ đã học được trong suốt hai thế kỷ, và nó vẫn đúng cho tới ngày nay.
Sau khi đã tóm tắt luận điểm chính thì sau đây sẽ là phần giải thích chi tiết từng luận điểm này.
Chủ nghĩa tư bản là gì?
Chủ nghĩa tư bản là một loại hệ thống kinh tế. Đó là một cách thức tổ chức sản xuất hàng hóa và dịch vụ trong một cộng đồng nhất định. Bằng cách cho rằng chủ nghĩa tư bản là một cách tổ chức hoạt động kinh tế thì điều này cũng hàm ý rằng nó không phải là cách thức tổ chức hoạt động kinh tế duy nhất. Đã có những loại hệ thống kinh tế khác – hai ví dụ nổi tiếng là nền kinh tế nô lệ của La Mã cổ đại và chế độ phong kiến ở châu Âu và châu Á. Vậy thì điều gì làm nên sự khác biệt của chủ nghĩa tư bản? Làm thế nào để chúng ta xác định cái gì là chủ nghĩa tư bản?
Cách đơn giản nhất để xác định chủ nghĩa tư bản là dựa trên cơ sở của thứ gọi là sự phụ thuộc vào thị trường. Trong một xã hội tư bản, đại đa số người dân phụ thuộc vào thị trường để kiếm sống. Điều này có nghĩa là nếu mọi người muốn có được những nhu cầu cơ bản cho cuộc sống của mình – chẳng hạn như thực phẩm, quần áo và chỗ ở – thì họ phải mua hoặc thuê chúng từ người khác. Họ không có lựa chọn tự kiếm những nhu cầu cơ bản này. Hệ thống phụ thuộc vào thị trường có một số đặc điểm quan trọng sau đây.
Mọi sản phẩm được sản xuất ra với mục đích duy nhất là để bán trên thị trường, chứ không phải để tự tiêu dùng.
Điều này có nghĩa là khi nhà sản xuất tạo ra thứ gì đó thì họ sẽ không tự mình tiêu dùng các sản phẩm này. Mục đích chính của việc sản xuất là bán sản phẩm đó cho người khác. Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt của hoạt động sản xuất. Những người tổ chức và thực hiện các quyết định kinh tế giờ đây phải tập trung toàn lực vào việc tìm kiếm người mua hàng hóa của mình. Họ không quan tâm liệu hàng hóa hoặc dịch vụ đó là thứ mà cá nhân họ thích hoặc muốn sử dụng hay không. Điều quan trọng là người khác thích và muốn mua nó.
Quá trình lao động sản xuất được thực hiện bởi những người muốn nhận tiền lương.
Nói theo cách khác thì hình thức làm việc điển hình trong chủ nghĩa tư bản là làm công ăn lương. Trong phần lớn lịch sử loài người, hầu hết mọi người đều tự kinh doanh. Họ làm việc trên mảnh đất của mình với tư cách là nông dân hoặc trong nhà xưởng của mình với tư cách là thợ thủ công. Trong chủ nghĩa tư bản, việc tự kinh doanh là ngoại lệ, không phải là quy luật. Đại đa số người dân phải làm việc cho người khác. Họ làm việc dưới sự chỉ đạo của người chủ, trong khoảng thời gian đã thỏa thuận và với mức thù lao đã thỏa thuận. Mức thù lao này thường được trả theo giờ, được gọi là tiền lương.
Các cơ sở sản xuất thuộc sở hữu tư nhân.
Điều này có nghĩa là những nơi thuê lao động làm công – như nhà máy, nhà kho, nhà hàng và khách sạn – đều thuộc sở hữu của những cá nhân có toàn quyền quyết định số phận của công nhân. Họ cũng có quyền quyết định thuê ai, thuê bao nhiêu người, sản xuất cái gì, có mở rộng sản xuất hay không, v.v. Những chủ sở hữu này được gọi là nhà tư bản và tài sản mà họ sở hữu được gọi là tư bản.
Ba yếu tố này là nền tảng cho một hệ thống tư bản chủ nghĩa. Điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù cả ba đều quan trọng nhưng thực chất thì quyền sở hữu tư nhân thực sự mới là yếu tố quyết định. Lao động làm thuê thực chất đã hiện diện ở một mức độ nào đó trong nhiều hệ thống kinh tế trong quá khứ. Nó tồn tại ở La Mã cổ đại và trong tất cả mọi loại hệ thống phong kiến ở Châu Âu và Châu Á. Việc buôn bán và trao đổi cũng rất phổ biến. Trên thực tế thì hầu như mọi xã hội nông nghiệp ổn định đều có hoạt động buôn bán cả trong và ngoài ranh giới của mình. Nhưng trong tất cả các trường hợp như vậy, lao động làm thuê và buôn bán chỉ chiếm tỉ trọng nhỏ trong nền kinh tế. Mọi người làm việc để kiếm tiền nhưng thường là để bổ sung cho những gì họ sản xuất được trên chính mảnh đất của mình; có thể có một số người chủ yếu sống dựa vào lao động làm thuê, nhưng những người này luôn là thiểu số.
Tương tự như vậy, thương mại đã tồn tại hàng thế kỷ, thậm chí hàng thiên niên kỷ, nhưng các đơn vị gia đình rất hiếm khi phụ thuộc vào trao đổi để tồn tại. Những gì họ mang ra thị trường thường là lượng hàng dư thừa sau khi họ đã đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng cơ bản. Vì vậy, họ không tổ chức sản xuất với mục tiêu duy nhất là bán ra thị trường. Do đó, những gì họ làm ra vẫn hướng đến tiêu dùng cá nhân. Vì vậy, việc chỉ tồn tại một số lao động làm thuê không phải là điều kiện cần cho chủ nghĩa tư bản. Tương tự như vậy, sự tồn tại của thương mại và trao đổi cũng không cho thấy rằng chủ nghĩa tư bản tồn tại. Cả hai hiện tượng này đều tồn tại trong các hệ thống kinh tế tiền tư bản chủ nghĩa. Để hai hiện tượng này gắn liền với chủ nghĩa tư bản thì chúng phải trở thành trung tâm của hoạt động kinh tế. Chúng phải trở thành nguyên tắc tổ chức cho hoạt động sản xuất và phân phối.
Vì vậy, thương mại và lao động làm thuê trở thành đặc điểm nhận dạng của chủ nghĩa tư bản khi chúng trở thành điểm tựa của toàn bộ nền kinh tế – tức là khi chúng trở thành phương tiện thực hiện hóa quá trình sản xuất và tiêu dùng. Và về mặt lịch sử, điều này chỉ xảy ra khi đại đa số người dân mất khả năng tiếp cận phương tiện sản xuất. Trong hầu hết lịch sử loài người, đại đa số mọi người đều sống tự cung tự cấp. Quan trọng hơn là các gia đình có quyền sở hữu đối với các thửa đất. Miễn là họ còn tiếp cận được mảnh đất này thì họ có thể tự sản xuất để tự cung cho nhu cầu của mình – họ tự trồng trọt, sản xuất phần lớn các mặt hàng tiêu dùng của riêng mình và do đó không phải dựa vào việc bán hàng ở chợ hay làm việc để kiếm tiền. Họ vẫn tham gia vào các giao dịch trên thị trường và thậm chí thỉnh thoảng họ còn phải làm thuê. Nhưng sự sống còn của họ không bao giờ phụ thuộc vào những hoạt động này. Họ chỉ dựa vào chúng để bổ sung thu nhập và tiêu dùng. Miễn là họ có khả năng tiếp cận các tư liệu sản xuất thì họ có thể kiểm soát được sự xâm lấn của thị trường vào cuộc sống của mình.
Nhưng một khi các chủ thể kinh tế bị tước bỏ tư liệu sản xuất, một khi họ mất khả năng tiếp cận đất đai và tư bản, thì các điều kiện tái sản xuất kinh tế của họ sẽ thay đổi hoàn toàn. Họ không thể dựa vào nông nghiệp hoặc nghề thủ công của mình để tồn tại vì họ không tiếp cận được các yếu tố sản xuất quan trọng. Họ phải mua các mặt hàng tiêu dùng trên thị trường, nghĩa là trước tiên họ phải tìm cách kiếm tiền để mua chúng. Số tiền này đến từ việc làm việc cho một số ít người hiện đang nắm độc quyền kiểm soát các tư liệu sản xuất, tức những nhà tư bản.
Một cách khác để diễn đạt tất cả những điều này là chủ nghĩa tư bản sinh ra nhờ việc tạo ra một loại cấu trúc giai cấp cụ thể – trong đó có một nhóm nhỏ ở một bên được gọi là các nhà tư bản, những người kiểm soát tư liệu sản xuất cơ bản; và một nhóm khác, đại đa số, nằm ở phía bên kia, những người không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải tìm kiếm việc làm từ những nhà tư bản này. Chúng tôi gọi nhóm thứ hai là giai cấp công nhân. Chính việc tạo ra hệ thống giai cấp này đã khiến mọi người phải phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường. Chính việc tạo ra một giai cấp tư bản và một giai cấp công nhân đã khiến thị trường lan rộng ra toàn xã hội. Nhưng điều này xảy ra bằng cách nào?
Dưới đây là lý do. Khi tước đi tư liệu sản xuất của phần lớn dân số thì hai thị trường đã được tạo ra cùng một lúc. Thứ nhất, bằng cách buộc phần lớn dân số phải tìm việc làm, chúng ta đã tạo ra thị trường lao động. Những người sở hữu tư bản muốn sản xuất hàng hóa giờ đây có thể tìm được lao động trên thị trường lao động mới thành lập này. Thứ hai, bằng cách buộc những người lao động làm công này phải mua hàng hóa đã được sản xuất trên thị trường, chúng ta đã tạo ra một thị trường cho chính những hàng hóa đó – một thị trường chưa từng tồn tại trước đây vì mọi người dựa vào phương tiện sản xuất của chính họ để nuôi sống chính mình. Từ đó ta có một thị trường dành cho lao động và một thị trường khác dành cho hàng hóa mà lao động đó sẽ sản xuất ra, trong khi trước đây cả hai thị trường này đều rất nhỏ hoặc không tồn tại.
Do đó, điều khiến lao động làm thuê và trao đổi thị trường nằm ngoài lề quá trình sản xuất kinh tế trong hầu hết lịch sử loài người là sự thiếu vắng tài sản tư hữu. Và điều cho phép hai yếu tố này tiếp quản nền kinh tế và trở thành yếu tố điều khiển các quyết định sản xuất và tiêu dùng là khi một nhóm người cưỡng đoạt đất đai của một nhóm người khác.
Lợi nhuận là trên hết
Vậy bây giờ chúng ta biết rằng trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thì hầu hết mọi người bị phân chia thành hai giai cấp lớn. Hoạt động sản xuất được kiểm soát bởi các nhà tư bản, những người sử dụng người lao động để sản xuất sản phẩm và dịch vụ. Các sản phẩm và dịch vụ này được bán trên thị trường dưới dạng hàng hóa. Chính từ việc bán hàng hóa này mà cả người lao động và người sử dụng lao động đều có được thu nhập. Điều này nên được xem xét kỹ hơn một chút.
Karl Marx đã mô tả một cách rất trực quan quá trình kinh doanh của nhà tư bản. Giả sử bạn là một nhà tư bản có một số tiền muốn dùng để khởi nghiệp. Số tiền này được biểu thị bằng chữ M. Với chữ M này, nhà tư bản sẽ đi ra ngoài và mua những gì họ cần để sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ (đất đai, máy móc, nguyên liệu thô, và tất nhiên là sức lao động), từ đó tiến hành sản xuất ra hàng hóa, rồi cuối cùng là mang chúng ra thị trường để bán. Hàng hóa được sản xuất ra được ký hiệu là C. Nếu bán được C thì nhà tư bản có thể thu lại số tiền ban đầu đã chi cho đầu vào M. Điều này hoàn thành chu trình sản xuất. Quá trình này có thể được minh họa như sau:
M → C → M
Chữ M ở cuối tượng trưng cho số tiền mà người sử dụng lao động ban đầu đã chi, tức khoản đầu tư ban đầu. Nếu người sử dụng lao động thu hồi được số tiền này từ doanh thu bán hàng thì họ có thể bắt đầu một chu kỳ sản xuất mới và tham gia lại thị trường để thử vận may. Nếu số tiền M ban đầu không được hoàn lại và doanh thu thấp hơn giá trị ban đầu thì tài sản của người sử dụng lao động sẽ bị hao hụt. Vì vậy, ít nhất, nhà tư bản cần thu hồi lại số tiền mà họ đã đầu tư ban đầu nếu muốn tiếp tục kinh doanh.
Tuy nhiên, mặc dù điều quan trọng là nhà tư bản phải thu hồi lại khoản đầu tư ban đầu này, nhưng đây không phải là tất cả những gì nhà tư bản cần. Vấn đề đầu tiên là nếu như vậy thì nhà tư bản sẽ không kiếm được tiền. Muốn kiếm được tiền thì nhà tư bản phải có một khoản bổ sung vào giá trị ban đầu của M – một khoản thặng dư lớn hơn số tiền nhà tư bản đã chi trả. Chúng ta có thể biểu diễn số tiền này dưới dạng ΔM. “Δ” đại diện cho số tiền tăng thêm mà nhà tư bản đã kiếm được từ khoản đầu tư ban đầu—tức lợi nhuận. Chính từ lợi nhuận này, ΔM, mà nhà tư bản mới có được thu nhập, và đây cũng là số tiền được dùng để có thể mở rộng quy mô sản xuất bằng cách mua máy móc mới, v.v. Vì vậy, M mới—M đầu ra—cần phải lớn hơn hơn giá trị M ban đầu—M đầu vào—nếu muốn thoát khỏi cảnh huề vốn. Do đó thì cách minh họa quá trình chính xác hơn có thể có dạng như sau:
M → C → M + △M
Mức dôi ra không phải là điều nhỏ nhặt. Thực chất thì nó là phần quan trọng nhất của nỗ lực sản xuất. Toàn bộ nguồn lực của nhà tư bản được dồn vào để có được ΔM. Nếu không có ΔM thì toàn bộ nỗ lực của nhà tư bản sẽ trở thành một kiểu nỗ lực từ thiện: họ trả công cho người khác nhưng không mang lợi lộc gì về cho mình. ΔM là lợi nhuận của nhà tư bản, và như mọi người đều biết, chính việc theo đuổi lợi nhuận đã định hình toàn bộ tổ chức sản xuất trong chủ nghĩa tư bản.
Bây giờ chúng ta biết nhà tư bản đang theo đuổi điều gì: họ theo đuổi lợi nhuận. Chúng ta biết rằng nhà tư bản sở hữu tư liệu sản xuất, và sử dụng tư liệu sản xuất đó để có được số lợi nhuận này. Khi đã có sẵn nguyên liệu đầu vào (tức máy móc, nhà xưởng, nguyên liệu thô, v.v.) thì tất cả những gì nhà tư bản cần tìm là lao động. Nếu nhà tư bản đang hoạt động tại nơi mà nông dân chưa bị tước đoạt đất đai thì đây tất nhiên là một trở ngại lớn, vì lao động mà nhà tư bản cần thì lại không có sẵn. Đây là lý do tại sao chủ nghĩa tư bản đòi hỏi phải tước bỏ tư liệu sản xuất của phần lớn dân số, để phần lớn dân số này phải ra ngoài tìm việc làm và sẵn sàng phục vụ doanh nghiệp. Nhưng vì chúng ta đang giả định rằng việc tước đoạt đất đai này đã được thực hiện, nên việc tìm đủ số lượng công nhân trên thị trường lao động hiếm khi là vấn đề.
Nhà tư bản bây giờ phải làm hai việc. Đầu tiên, họ phải yêu cầu nhân viên của mình làm công việc cần thiết để sản xuất ra mặt hàng mà họ muốn đưa ra thị trường. Nhà tư bản có thể làm điều này theo một vài cách khác nhau. Cách thứ nhất cũng là cách điển hình nhất ở các nước công nghiệp tiên tiến: tập hợp nhân viên vào một nơi để thực hiện hoạt động kinh tế nào đó. Điều này được thể hiện dưới dạng nhà máy, xưởng, khách sạn, nhà hàng, viện dưỡng lão, nhà kho, v.v. Tại đây, nhà tư bản cung cấp cho công nhân nguyên liệu thô, công cụ, máy móc, v.v. cần thiết để tạo ra hàng hóa, và từ đó tiến hành sản xuất hàng hóa. Công nhân sử dụng các tư liệu sản xuất này, và khi kết thúc giai đoạn sản xuất thì công nhân tạo ra được món hàng mà nhà tư bản muốn đưa ra thị trường. Trong trường hợp dịch vụ thì họ bán nó tại chỗ cho khách hàng khi họ đến mua. Bằng cách nào đi chăng nữa thì nhà tư bản phải chắc chắn rằng nhân viên của mình phải cung cấp cho họ thứ mà họ cần – lao động cần thiết để sản xuất hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ. Quá trình thu được lao động này từ người lao động, tức là khoảng thời gian họ làm việc để sản xuất ra hàng hóa hoặc dịch vụ, được gọi là quá trình lao động.
Trong các xã hội tư bản tiên tiến, quá trình lao động được giám sát bởi người sử dụng lao động hoặc người quản lý để đảm bảo rằng nhân viên đạt được mức năng suất mà người chủ lao động yêu cầu. Nhưng ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước nghèo, thì các nhà tư bản thường thuê những công nhân không thực hiện quy trình lao động dưới chung một nơi. Thay vào đó, họ làm việc tại nhà, thường huy động cả gia đình và đôi khi tự mình thuê một số ít công nhân. Đây là phương pháp sản xuất thứ hai, là một loại thầu phụ hoặc hợp đồng thuê ngoài. Đây cũng là một hình thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, không khác gì hình thức sản xuất đầu tiên, vì các nguyên tắc tổ chức cơ bản đều giống nhau: công việc được thực hiện bởi người công nhân với một mức giá cố định và sản phẩm được tạo ra để bán chứ không phải để tiêu dùng cá nhân. Điều khác biệt là nơi diễn ra quá trình lao động – nó nằm ở nhiều nơi khác nhau thay vì nằm trong một tòa nhà hoặc khu phức hợp.
Bây giờ đến điều thứ hai mà nhà tư bản cần làm – bán sản phẩm. Nếu nỗ lực bán hàng diễn ra như mong đợi thì khoản đầu tư ban đầu sẽ được bù lại và nhà tư bản sẽ nhận lại được lợi nhuận, tức ΔM. Nhà tư bản hiện đã sẵn sàng bắt đầu lại quy trình, thuê lại công nhân cho kỳ sản xuất tiếp theo và bán lô hàng mới trên thị trường, và có thể kiếm được một đợt doanh thu khác. Quá trình này có vẻ khá đơn giản. Nhưng thực chất nó không đơn giản như vậy. Điều mà nhà tư bản thường thấy là thị trường không giống như ảo tưởng yên bình này. Trên thực tế, nó giống một vùng chiến sự hơn. Và những thách thức của thị trường ảnh hưởng đến mọi khâu của quá trình sản xuất, bắt buộc nhà tư bản phải điều chỉnh ở từng bước, từ mua nguyên liệu đầu vào cho đến tiếp thị.
Áp lực cạnh tranh
Điều biến thị trường thành một nơi giống như một vùng chiến sự là sự cạnh tranh. Khi các nhà tư bản cố gắng bán sản phẩm của mình thì họ sẽ nhận ra một trong hai điều sau. Điều phổ biến nhất là họ không phải là người duy nhất cố gắng tiếp thị mặt hàng đó. Có những nhà tư bản khác cũng đang cố gắng làm điều tương tự, mang hàng hóa của họ đi bán và hy vọng thu lại khoản đầu tư của mình, giống như nhà tư bản cụ thể mà chúng ta đang theo dõi. Một nhà sản xuất ô tô nhận thấy những nhà máy khác cũng đang bán ô tô, một người quản lý khách sạn nhận thấy các khách sạn khác đang tranh giành khách hàng, và các nhà sản xuất đồ may mặc phải cạnh tranh với các nhà sản xuất khác cũng đang cố tiếp thị sản phẩm của chính họ. Và vì tất cả đều tranh giành cùng một số lượng người tiêu dùng nên họ phải tìm cách thu hút người tiêu dùng đến với hàng hóa của mình và tránh xa những hàng hóa do người khác bán.
Khả năng thứ hai là ban đầu nhà tư bản không có đối thủ cạnh tranh nào khác trên thị trường. Họ có thể rất may mắn khi trở thành nhà sản xuất mặt hàng này duy nhất, và do đó có thể dễ dàng bán được hàng với giá cao. Tỷ suất lợi nhuận từ khoản đầu tư của họ có thể tăng lên đến mức mà các nhà tư bản trong các lĩnh vực khác chỉ có thể mơ ước. Nhưng tình trạng này khó có thể kéo dài lâu. Việc làm ăn thuận lợi như vậy và tỷ suất lợi nhuận cao tới vậy chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của các nhà tư bản khác. Và khi các nhà tư bản này chuẩn bị bắt đầu chu kỳ sản xuất tiếp theo, và khi họ đã có doanh thu trong tay, thì họ sẽ tạm dừng công việc. Trong thời gian tạm dừng này thì họ sẽ so sánh lợi nhuận có thể nhận được trong dây chuyền sản xuất của mình với dây chuyền sản xuất kiếm lợi nhuận cao hơn trong khu vực mà nhà tư bản của chúng ta là nhà sản xuất duy nhất. Rất có thể họ sẽ quyết định bước chân vào lĩnh vực có lợi nhuận cao này để có thể khai thác dòng lợi nhuận dễ dàng mà nhà tư bản của chúng ta đang kiếm được. Một cách khác sẽ là không phải là các nhà tư bản từ các lĩnh vực khác tham gia vào lĩnh vực mới này. Thay vào đó, người tham gia là các nhà tư bản đang tìm kiếm nơi để dồn vốn đầu tư lần đầu, giống như cách nhà tư bản của chúng ta đã làm khi quyết định tham gia vào lĩnh vực với tư cách là nhà sản xuất đơn độc. Dù thế nào đi nữa, trạng thái “nhà sản xuất độc quyền” cũng không kéo dài được lâu.
Vấn đề ở đây là dù sớm hay muộn thì hầu hết mọi nhà tư bản đều thấy rằng nếu họ muốn kiếm được lợi nhuận thì phải giành chiến thắng trong cuộc chiến cạnh tranh. Do đó, nỗ lực bán hàng trở thành một công việc hết sức gian khổ. Đây là công việc có mục tiêu chính không chỉ là tìm khách hàng mà còn khiến họ mua hàng của mình thay vì của người khác. Cách quan trọng nhất để đạt được điều này là hạ giá bán hàng hóa sao cho giá của họ rẻ hơn giá bán của đối thủ cạnh tranh. Do đó, cạnh tranh được thực hiện chủ yếu thông qua việc giảm giá. Sự cạnh tranh về giá này nên được hiểu theo một trong hai cách – hoặc là bán hàng hóa có chất lượng tương tự ở mức giá thấp hơn hoặc bán hàng hóa có chất lượng tốt hơn ở cùng mức giá. Dù bằng cách nào đi chăng nữa thì người bán cũng đều muốn cung cấp cho khách hàng một món hời tốt hơn.
Nhưng đây chính là lúc mà tác động sâu sắc của cạnh tranh trở nên rõ ràng. Áp lực hạ giá bán này tạo ra một vấn đề trước mắt cho nhà tư bản. Nếu nhà tư bản tiếp tục giảm giá để thu hút nhiều khách hàng hơn, điều đó có nghĩa là họ cũng đang làm giảm tỷ suất lợi nhuận của mình bởi vì giá bán của anh ta giảm nhưng chi phí thì không. Chi phí sản xuất hàng hóa vẫn như cũ – nhà tư bản vẫn phải trả tiền thuê nhà, trả mọi khoản vay đã vay; tất cả các chi phí nguyên vật liệu đều vẫn như cũ và tiền lương phải trả cũng vậy. Và nếu tỷ suất lợi nhuận của người này tiếp tục giảm thì điều đó có thể đe dọa đến sự sống còn của doanh nghiệp. Sẽ sớm đến một thời điểm mà nhà tư bản này không thể chi trả cho dòng đầu vào của mình, hoặc khi lợi nhuận của thấp đến mức việc tiếp tục kinh doanh dòng sản phẩm cụ thể đó không còn ý nghĩa gì nữa. Nhà tư bản sẽ nghĩ đến việc đóng cửa doanh nghiệp và tìm kiếm những khoản đầu tư khác. Nếu muốn tiếp tục kinh doanh dòng sản phẩm này, hoặc ít nhất là duy trì khả năng thanh toán, người này phải tìm cách thoát khỏi tình trạng lợi nhuận nhỏ giọt. Nói theo cách khác: người này phải kiếm thêm lợi nhuận.
Động lực giảm thiểu chi phí
Cách duy nhất để nhà tư bản vừa duy trì tỷ suất lợi nhuận và lại vừa giảm giá bán là giảm chi phí. Điều này có hai mặt. Mặt đầu tiên cũng là mặt rõ ràng nhất – khi người này đi mua máy móc, tìm một tòa nhà để thuê hoặc thuê nhân công thì người này sẽ chọn phương án rẻ nhất hiện có. Nhà tư bản này không có đủ tiền để phung phí. Nhưng tất nhiên, không phung phí không có nghĩa là mua rác chỉ vì nó rẻ. Họ phải đảm bảo rằng bất kỳ đầu vào nào họ nhận được đều phải đem lại hiệu quả và năng suất. Đây là mặt thứ hai của việc giảm chi phí. Đầu vào phải là những lựa chọn rẻ nhất hiện có, nhưng cũng sẽ phải mang lại lợi nhuận xứng đáng bằng cách đạt tiêu chuẩn của sản phẩm đối thủ cạnh tranh tạo ra. Mua một chiếc máy giá rẻ cũng không có ích gì nếu nó liên tục bị hỏng; việc chuyển địa chỉ công ty sang một tòa nhà có giá thuê thấp sẽ không giúp ích gì nếu nó không có nguồn điện ổn định; và những người lao động giá rẻ cũng sẽ không giúp ích được gì nếu họ suốt ngày chỉ đứng hoặc thiếu những kỹ năng cần thiết. Cái mà nhà tư bản cần không phải là đầu vào rẻ nhất mà là món hời nhất. Điều biến cho đầu vào trở thành món hời không chỉ là giá của chúng mà còn ở khoản là sản lượng chúng sản xuất ra là bao nhiêu.
Vì vậy, nhà tư bản phải đảm bảo rằng họ đang làm hai việc cùng một lúc – chi tiêu ít nhất có thể, đồng thời tận dụng tối đa mỗi đồng tiền mà họ đã chi tiêu. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách nhà tư bản đối xử với công nhân của mình. Nhà tư bản không chỉ muốn chiếc máy rẻ nhất mà còn muốn chiếc máy vừa rẻ và vừa tạo ra nhiều sản phẩm nhất. Vì vậy, nhà tư bản không chỉ muốn trả lương rất ít mà còn muốn công nhân sản xuất ra nhiều sản phẩm nhất có thể với đồng lương ít ỏi đó. Nhà tư bản muốn tối đa hóa nỗ lực làm việc của công nhân, bất kể mức lương mà người này trả cho họ là gì đi nữa, và bất kể loại máy móc nào mà người này bắt họ phải sử dụng đi chăng nữa.
Vấn đề là không có cách nào để xác định số lượng và chất lượng nỗ lực mà một công nhân sẽ cống hiến cho người chủ lao động. Khi một nhà tư bản thuê người lao động thì thỏa thuận sẽ đề cập tới hai vấn đề – họ sẽ làm việc trong bao lâu và tiền lương của họ là bao nhiêu. Cốt lõi của văn bản thỏa thuận là thời gian lao động. Người sử dụng lao động trả lương cho người lao động và sau đó hy vọng – hoặc cố gắng đảm bảo – rằng nỗ lực mà người lao động đó bỏ ra có thể đạt được tiêu chuẩn thị trường. Thật không may cho nhà tư bản là điều này không dễ dàng như vậy. Đầu tiên, nhà tư bản không thể chắc chắn rằng người công nhân có thực sự quan tâm tới mục tiêu này như họ hay không. Người công nhân có thể không muốn làm việc với mức lương mà người chủ của mong muốn. Người lao động cũng có thể thích nhịp độ làm việc nhàn nhã hơn. Hoặc đáng ngại hơn, người lao động có thể cảm thấy rằng tốc độ làm việc mà sếp yêu cầu thực sự có thể gây hại cho họ.
Thứ hai, tốc độ làm việc mà người sử dụng lao động yêu cầu có thể liên tục thay đổi. Tốc độ làm việc chấp nhận được vào tháng trước có thể sẽ thay đổi ngay trong hôm nay, bởi vì đối thủ đã tìm ra cách thúc ép công nhân của mình phải chăm chỉ hơn, hoặc có thể đã mua một chiếc máy mới để giảm chi phí. Điều này khiến mọi nhà tư bản khác phải nỗ lực tìm ra những cách thức mới để tiết kiệm và thu được nhiều hơn từ lực lượng lao động của họ. Mục tiêu của họ dường không bao giờ ngừng thay đổi. Vì vậy, ngay khi công nhân đã quen với tốc độ làm việc nhất định thì có thể có mệnh lệnh từ trên xuống bảo rằng như vậy là chưa đủ. Bây giờ họ phải làm việc chăm chỉ hơn, hoặc nhanh hơn so với trước đây. Vì vậy, các nhà tư bản phải coi nỗ lực làm việc của nhân viên như là một biến số. Điều này có nghĩa là họ không thể dự đoán nó được và phải liên tục tìm ra những cách điều chỉnh mới. Nó là một biến số bởi vì khi nhà tư bản thuê một công nhân thì họ không có kiến thức về năng lực của người này, và họ không thực sự tin tưởng vào mức độ nỗ lực mà người đó sẽ sẵn sàng cống hiến. Điều này tạo ra sự xung đột liên tục giữa hai bên, khiến quá trình lao động trở thành chiến trường giữa người lao động và cấp quản lý.
Động lực giảm tiền lương và tối đa hóa nỗ lực làm việc là bản chất của mối quan hệ giữa giai cấp tư bản và giai cấp công nhân. Trong toàn bộ nền kinh tế tư bản thì bất kể dòng sản phẩm hay thành phần kinh tế nào đi chăng nữa thì động lực cơ bản đều như nhau. Một nhà tư bản cố gắng bắt lực lượng lao động của mình làm việc nhanh hơn, chăm chỉ hơn và cẩn thận hơn thì thường sẽ làm ăn phát đạt hơn nhiều so với một nhà tư bản có công nhân kém cẩn thận hơn hoặc không chăm chỉ bằng. Nhà tư bản không thúc ép công nhân phải làm việc vì lòng tham lam của họ, mà là vì người khác có thể làm điều này hiệu quả hơn – và người đó có thể có được lợi thế trên thị trường. Tất nhiên, điều này không có nghĩa là tất cả công nhân đều phải làm việc với mức lương chết đói. Ở các ngành khác nhau thì mức lương giao động tùy theo năng suất. Vấn đề không nằm ở việc người lao động ở mọi lĩnh vực đều có mức lương như nhau. Vấn đề thực chất nằm ở sự thật rằng ở mọi lĩnh vực thì người lao động buộc phải chịu áp lực như nhau, và mức lương của họ được giữ ở mức thấp nhất mà thị trường cho phép.
Hai điều này kéo theo hai hậu quả lớn như sau. Đầu tiên, việc giữ lương ở mức thấp nhất có thể nhưng lại đồng thời bắt ép nhân viên làm việc chăm nhất có thể đã biến mối quan hệ giữa người sử dụng lao động và công nhân trở thành mối quan hệ đối lập. Một cách khác để giải thích điều này là các nhà tư bản và công nhân rốt cuộc có những lợi ích rất khác nhau, vì rõ ràng là công nhân muốn có mức lương cao nhất có thể và muốn có một lịch trình làm việc vừa phải. Khi nhà tư bản bảo công nhân tăng sản lượng mỗi giờ, điều đó đồng nghĩa với việc họ mệt mỏi hơn; khi nhà tư bản cắt ngắn thời gian nghỉ ngơi của nhân viên thì điều đó có nghĩa là họ sẽ phải vất vả hơn; khi nhà tư bản nhiều năm liền không tăng lương cho họ thì điều đó có nghĩa là họ đang chuyển giao cho người này tất cả lợi nhuận thu được từ năng suất cao hơn của mình. Ông chủ kiếm lời từ mồ hôi của của công nhân – và vì vậy nên hai bên có lợi ích khác nhau. Nhưng đây là lúc thực tế quan trọng thứ hai xuất hiện – mặc dù người lao động có thể có những ưu tiên khác với nhà tư bản, nhưng nhà tư bản mới là người có thể đặt ra các điều khoản cơ bản. Hay nói cách khác, lợi ích của nhà tư bản thường chiếm ưu thế. Điều này xảy ra do họ là phe mạnh hơn. Họ có quyền thuê và sa thải nhân viên, và nhân viên hiếm khi kiếm đủ tiền để chấp nhận nguy cơ mất việc.
Khi kết hợp hai sự thật này lại với nhau, chúng ta thấy được nguồn gốc của một trong những sự thật cơ bản nhất về chủ nghĩa tư bản: mặc dù người lao động và nhà tư bản làm việc cùng nhau để tạo ra doanh thu cho công ty, nhưng cách họ thực hiện việc đó và cách phân phối lợi ích đều được quyết định bởi chính các nhà tư bản. Điều này cho phép các nhà tư bản đề ra các điều kiện làm việc để họ thu được lợi ích từ tăng trưởng kinh tế, trong khi công nhân bị buộc phải gánh chịu phần lớn chi phí. Quyền thuê và sa thải của người sử dụng lao động cho phép họ tổ chức công việc theo cách mang lại lợi ích cho họ, trong khi người lao động buộc phải điều chỉnh cuộc sống của họ theo yêu cầu của công việc. Kết quả là một bên thu về tài sản và quyền lực, trong khi bên kia thì phải chịu thu nhập trì trệ, bất an, thời gian làm việc quá dài và sức khỏe suy sụp.
Sau đây là cách mà vấn đề này được thể hiện trong ba lĩnh vực quan trọng—phân phối thu nhập, tình trạng bất ổn kinh tế, và tốc độ và thời gian làm việc.
Phân phối thu nhập
Cách rõ ràng nhất mà người sử dụng lao động hưởng lợi trên công sức người lao động là cách mà thành quả sản xuất được phân phối. Nguyên tắc hoạt động cơ bản của công ăn việc làm trong chủ nghĩa tư bản là người sử dụng lao động đưa ra lời mời việc làm ở một mức lương nhất định, và người lao động có quyền tự do chấp nhận hoặc từ chối lời đề nghị đó. Dù đây có vẻ là một tình huống thương lượng công bằng giữa hai bên, nhưng thực chất giao dịch này lại rất bất bình đẳng. Những người đang tìm việc làm phải làm điều này vì họ không có tiền để tồn tại. Họ tham gia vào thị trường lao động mà lại có rất ít hoặc không có đồng tiền tiết kiệm nào. Mặt khác, người sử dụng lao động theo định nghĩa là những người nắm giữ tài sản, thường có dòng thu nhập ổn định và cũng có thể tiếp cận tín dụng và các khoản vay nếu họ cần. Vì vậy nên trường hợp thương lượng trên mới có bản chất bất bình đẳng: nó là một giao dịch giữa một người (người lao động) đang khao khát có thu nhập và một người khác (người sử dụng lao động) đã có sẵn một lượng của cải dồi dào. Rõ ràng, người sử dụng lao động ở vị thế mạnh hơn người lao động rất nhiều. Sự bất bình đẳng này có nghĩa là người sử dụng lao động có thể đặt ra các điều khoản có lợi cho họ hơn so với nhân viên của mình trong hợp đồng lao động. Họ có thể cho phép mình nắm được quyền sở hữu phần lớn thu nhập mà công ty của họ tạo ra. Tất nhiên, người lao động có quyền từ chối thỏa thuận này, nhưng họ cũng phải trả giá bằng nguy cơ thất nghiệp. Vì vậy, người lao động có hai lựa chọn: một là chấp nhận hợp đồng không công bằng, hoặc không nhận được đồng lương nào.
Sự mất cân bằng này có hậu quả vô cùng to lớn. Quyền lực lớn hơn của các nhà tư bản cho phép họ có được thu nhập cao hơn mức họ có thể nhận được nếu họ có vị thế bình đẳng hơn so với người lao động. Và điều này có nghĩa là thu nhập bắt buộc phải bao gồm một thành phần mà nhà tư bản có được vì họ đã tống tiền người lao động. Hành động tống tiền này xảy ra được nhờ sự tuyệt vọng của người lao động. Do đó, lý do chính khiến tỷ lệ thu nhập của người lao động thấp là vì một phần thu nhập lẽ ra là của họ lại lọt vào túi của các nhà tư bản. Điều này xảy ra được thông qua hành động tống tiền trên của nhà tư bản. Nhưng nếu đúng như vậy thì có thể nói rằng các nhà tư bản có được thu nhập tăng cao ít nhất một phần là do thu nhập của người lao động nằm ở mức thấp.
Đôi khi có người cho rằng đúng là đáng tiếc khi người sử dụng lao động đòi có được phần thu nhập lớn nhất, nhưng điều này vẫn biện minh được vì họ tái đầu tư khoản thu nhập đó. Việc tái đầu tư dẫn đến tăng trưởng nhanh hơn và sự tăng trưởng này cũng dẫn đến thu nhập của người lao động tăng lên. Như thành ngữ đã nói: nước dâng thì thuyền lên. Nhưng nửa thế kỷ qua đã cho thấy không có lý do gì để mong đợi một kết quả như vậy. Việc người lao động nhận được thành quả của việc tăng năng suất phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng khả năng thương lượng của họ với người sử dụng lao động. Không có nó, thu nhập tăng sẽ đi thẳng vào tay các ông chủ. Lịch sử tăng trưởng tiền lương ở Mỹ cho thấy rất rõ điều này. Chúng ta có thể thấy lịch sử Hoa Kỳ thời hậu chiến có thể được chia thành hai thời kỳ riêng biệt. Giai đoạn đầu tiên, kéo dài từ năm 1948 đến đầu những năm 1970, cho thấy rằng lương thưởng tăng cùng mức với tăng trưởng năng suất. Điều này có nghĩa là khi các công ty Mỹ hoạt động hiệu quả hơn và mang lại nhiều doanh thu hơn thì tiền lương cũng tăng theo. Nhưng điều này đã thay đổi vào giữa những năm 1970. Từ năm 1979 đến năm 2020, năng suất tăng 62% trong khi tiền lương chỉ tăng 17%. Phần còn lại của nó đã đi đâu? Vào tay chủ sở hữu và CEO.
Điều này dẫn đến hai hậu quả quan trọng. Điều đầu tiên, và cũng là quan trọng nhất, là nó phủ nhận hoàn toàn quan niệm sai lầm rằng nếu chúng ta chấp nhận sự gia tăng bất bình đẳng lớn thì lợi ích sẽ “nhỏ giọt” xuống người lao động. Trong thực tế thì không có gì đảm bảo một kết quả như vậy. Trừ khi người lao động có cách nào đó để chuyển hướng một phần dòng thu nhập về phía họ thì khả năng cao là nhà tư bản sẽ sử dụng quyền lực lớn hơn của mình để giành lấy và sử dụng dòng thu nhập này một cách tùy ý. Điều này dẫn đến hậu quả thứ hai: nguyên nhân chính khiến tăng trưởng thu nhập bị giảm sút là do khả năng thương lượng của người lao động suy giảm. Những năm mà tiền lương tăng cùng mức với năng suất cũng là thời kỳ mà các công đoàn có chỗ đứng ở công sở. Sau khi phong trào công nghiệp bùng nổ vào giữa những năm 1930, các công đoàn cuối cùng đã được công nhận về mặt pháp lý. Điều này cho phép hàng triệu công nhân có được khả năng tổ chức và thương lượng tập thể xoay quanh vấn đề về tiền lương và điều kiện làm việc. Người sử dụng lao động bây giờ phải thương lượng các điều khoản lao động, thay vì đơn phương đề ra chúng. Và kết quả là tiền lương và thu nhập của người lao động ngày càng tăng trong nhiều thập kỷ. Trong thời kỳ đó, người lao động buộc người sử dụng lao động phải chia sẻ một phần doanh thu, và người sử dụng lao động phải nhượng bộ vì các công đoàn có quyền ngừng làm việc nếu người chủ từ chối.
Nhưng đến giữa những năm 1970, quyền lực của công đoàn đã suy yếu đến mức họ không thể tạo ra áp lực cần thiết để chuyển nguồn thu cho công nhân. Số lượng thành viên tiếp tục giảm một cách trầm trọng. Số công đoàn viên từng chiếm 1/3 lực lượng lao động vào những năm 1950, nhưng vào những năm 1980 thì con số này đã xuống còn khoảng 10%. Số phận của người lao động khu vực tư một lần nữa lại nằm trong tay các nhà tư bản. Lợi nhuận tiếp tục tăng trong những năm 1990, nhưng thay vì kéo theo mức lương cao hơn thì số tiền đó giờ đây thuộc về chủ sở hữu và những nhà quản lý. Khi cán cân quyền lực giữa người lao động và giai cấp tư sản thay đổi thì sự phân phối thu nhập cũng thay đổi. Để nói đúng hơn thì phải sửa lại câu thành ngữ cổ điển: nước dâng nhưng chỉ thuyền của người giàu mới lên. Người nghèo thì phải bơi để sinh tồn.
Bất an kinh tế
Cốt lõi của quyền lực mà người sử dụng lao động áp đặt lên người lao động là tình trạng thiếu an ninh việc làm. Chúng ta đã thấy rằng lý do người lao động chấp nhận mức lương thấp là vì họ không có sự lựa chọn nào khác: họ một là chấp nhận lời đề nghị hoặc có nguy cơ chết đói. Mối đe dọa này hiệu quả vì người lao động không có cách nào khác để có được những nhu cầu cơ bản của cuộc sống ngoại trừ thông qua thị trường lao động. Họ phải tìm và giữ lấy việc nếu muốn sống. Và việc hoàn thành cả hai mục tiêu này – tìm được việc làm và giữ được việc – phụ thuộc hoàn toàn vào ý muốn bất chợt của những người kiểm soát tư liệu sản xuất, tức giai cấp tư sản. Những người theo chủ nghĩa tự do thường nói rằng mặc dù đúng là ông chủ có thể sa thải công nhân, nhưng công nhân cũng có thể “sa thải” ông chủ của mình—bằng cách đơn giản là bỏ việc. Nhưng điều này chỉ đúng một phần. Đúng là một công nhân có quyền tự do rời bỏ công việc của mình. Công nhân không thuộc quyền sở hữu của người sử dụng lao động, và cũng không phải là người lao động theo khế ước. Nhưng quyền tự do này thực chất không có nhiều ý nghĩa, trừ khi người công nhân có một số nguồn thu nhập dự phòng khác để đảm bảo họ có thể tồn tại sau khi bỏ việc. Điều này sẽ đến từ đâu? Công nhân không sở hữu đất, không sở hữu doanh nghiệp riêng, và cũng không có danh mục đầu tư chứng khoán khổng lồ nào. Vì không có những cái này nên họ mới phải ra ngoài tìm việc làm. Họ có thể tìm kiếm công việc khác, nhưng tất nhiên công việc nào cũng sẽ có sự mất cân bằng quyền lực tương tự giữa họ và người chủ. Ngoài ra, không có gì đảm bảo rằng họ sẽ tìm được việc làm. Vì vậy, động thái hợp lý nhất đối với họ là phải kiên trì và cố gắng bám lấy công việc hiện có.
Sự bất an cơ bản của người lao động được tích hợp vào hệ thống theo hai cách. Đầu tiên, sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản cho thấy rằng đại đa số người dân không được tiếp cận với tư liệu sản xuất. Đây là sự thật mà chúng ta đã xem xét từ đầu chương cho tới giờ, và đây cũng là trạng thái tuyệt vọng tự nhiên của đại đa số người dân. Cơ chế thứ hai tạo nên sự bất an trong hệ thống nằm trong chính quá trình tăng trưởng kinh tế. Tăng trưởng trong chủ nghĩa tư bản diễn ra khi các nhà tư bản tìm cách tăng hiệu suất và năng suất để có thể bán sản phẩm với giá thấp hơn và mở rộng thị phần của mình. Vì vậy nên tăng năng suất là từ khóa chính. Nhưng khi năng suất của các công ty tăng cao thì họ nhận ra rằng họ có thể sản xuất nhiều mà lại cần ít công nhân hơn. Họ cần ít công nhân hơn để sản xuất cùng một số lượng hàng hóa do năng suất đã tăng lên. Do đó, người sử dụng lao động tham gia vào loại hình đầu tư này thường phản ứng bằng cách sa thải một phần lực lượng lao động của họ và ném họ trở lại thị trường việc làm.
Đây là lý do tại sao hệ thống không bao giờ hết lao động. Bạn có thể thắc mắc tại sao lực lượng lao động lại không bao giờ vơi cạn. Suy cho cùng thì trong một nền kinh tế đang phát triển thì cơ hội việc làm luôn mở rộng và đến một lúc nào đó thì số người tìm việc sẽ cạn kiệt, phải không? Lý do không bao giờ thiếu người tìm việc là vì ngay cả khi mọi người tìm việc mới thì bản thân quá trình tăng trưởng cũng đang đẩy hàng loạt công nhân trở lại thị trường lao động. Chính quá trình tạo ra tăng trưởng – tức quá trình tăng cao năng suất lao động – cũng tạo nên nhiều người tìm việc làm hơn, từ đó giúp quá trình mở rộng này tiếp tục diễn ra. Marx gọi những công nhân thường xuyên bị ném trở lại thị trường lao động là đội quân lao động dự bị. Đây có thể được hiểu là một nguồn dự trữ lao động, và khi nào các nhà tư bản cần thì một phần trong nguồn dự trữ này sẽ chảy vào thị trường việc làm.
Về bản chất, điều này có nghĩa là chủ nghĩa tư bản không chỉ phụ thuộc vào việc tạo ra tình trạng bất an trên diện rộng mà còn tái tạo tình trạng bất an này trong chính huyết mạch của nó. Hay nói cách khác, tình trạng bấp bênh đã trở thành một phần của chính hệ thống tư bản. Đó là trạng thái tự nhiên của người lao động: tình trạng an ninh việc làm của họ được quyết định hoàn toàn bởi người sử dụng lao động. Và trong phần lớn lịch sử của chủ nghĩa tư bản thì thời hạn làm việc của một công việc điển hình thường rất ngắn.
Tình trạng mất an ninh việc làm đặc biệt nghiêm trọng ở phía Nam bán cầu, chủ yếu là do người dân từ nông thôn vẫn đổ xô đến thành phố để tìm việc làm. Chủ nghĩa tư bản liên tục đuổi công nhân ra khỏi thị trường lao động thông qua quá trình vừa mô tả ở trên, tức quá trình tăng năng suất liên tục, sự ra đời của máy móc mới và các kỹ thuật sản xuất yêu cầu nguồn vốn ban đầu cao hơn, v.v. Nhưng ở những vùng có ngành nông nghiệp lớn thì có tồn tại thêm một yếu tố là dòng người di cư đến thành phố vì họ không còn đất nông nghiệp nữa. Đôi khi điều này xảy ra do họ bị mất đất, hoặc họ chỉ đến thành phố để tìm kiếm thu nhập cao hơn. Nhưng khi chuyển sang thành thị sống thì họ trở thành một phần của đội quân lao động dự bị.
Sự dồi dào của lao động giá rẻ đem lại lợi ích rõ ràng cho người sử dụng lao động. Một lợi ích rất quan trọng mà nó mang lại cho nhà tư bản là là họ không bao giờ phải cam kết ký hợp đồng lao động dài hạn với nhân viên của mình. Lý do là bởi vì có hàng chục ứng viên khác sẵn sàng làm việc với mức lương thấp cho hầu hết tất cả các công việc. Ngay cả trong những ngành nghề thường có hợp đồng lao động dài hạn hơn như ô tô, thép và cao su thì những năm gần đây đã chứng kiến xu hướng chuyển sang hợp đồng lao động thuê ngoài ngắn hạn. Kết quả là ở các nước nghèo hơn, tức các nơi khu vực nông nghiệp vẫn còn lớn, thì tình trạng mất an ninh việc làm thường sâu sắc hơn nhiều, và công nhân cũng phải cố hơn rất nhiều để giữ được việc làm của mình. Điều này đặc biệt là do các chương trình phúc lợi xã hội như trợ cấp thất nghiệp, chăm sóc sức khỏe miễn phí và lương hưu cho người già khá hiếm. Đối với họ thì công việc trở thành nguồn sống duy nhất, ngay cả trong thời gian ngắn. Ngược lại, điều này làm tăng đáng kể khả năng thương lượng của người sử dụng lao động.
Ngay cả ở các nước công nghiệp tiên tiến, trong thời gian gần đây thì tình hình bắt đầu trở xấu. Trước hết, sự suy giảm của các công đoàn đã cho phép người sử dụng lao động chuyển từ hợp đồng dài hạn sang hợp đồng ngắn hạn. Trong nhiều thập kỷ, các công đoàn đã đấu tranh để hạn chế quyền đơn phương của người lao động trong việc đề ra và chấm dứt hợp đồng. Họ đã nỗ lực hết sức để hạn chế sự phụ thuộc của các công ty vào lao động tạm thời hoặc ngắn hạn. Và việc làm như vậy đã chuyển cán cân sang hướng tạo ra nhiều việc làm dài hạn hơn và cùng với đó là mang lại lợi ích lớn hơn cho người lao động. Tất nhiên, người sử dụng lao động không ngừng cố gắng giành lại quyền lực của mình, và khi ảnh hưởng của công đoàn giảm sút ở phần lớn thế giới phương Tây trong những năm 1980 và 1990 thì tỷ lệ “việc làm tốt” cũng theo đó mà giảm. Sự chuyển biến này của thị trường lao động càng trở nên tồi tệ hơn do xu hướng chậm lại của nền kinh tế kể từ đầu những năm 2000, do đó cơ hội tạo ra việc làm mới có xu hướng yếu đi do tăng trưởng chậm. Nói theo cách khác thì việc làm giờ không còn dồi dào nữa. Do đó, những người lao động bị sa thải phải dành nhiều thời gian tìm việc hơn, và điều này khiến cảm giác bất an càng trở nên gay gắt hơn.
Cuối cùng, quy mô thực tế của đội quân lao động dự bị đã tăng lên ồ ạt khi các nước xã hội chủ nghĩa cũ ở Đông Âu chuyển sang nền kinh tế thị trường vào những năm 1990. Những người lao động trước đây không phải là một phần của thị trường lao động châu Âu giờ đây đã bị đẩy vào đó. Đôi khi họ bị đẩy một cách trực tiếp, như công nhân Đông Đức sau khi thống nhất. Họ cũng có thể bị đẩy một cách gián tiếp thông qua sự hình thành Liên minh châu Âu, để rồi từ đó làm gia tăng đáng kể sự di cư lao động trên lục địa, và từ đó khiến Tây Âu bị bão hòa lao động từ phía Đông. Tất cả những thay đổi này đã khiến người lao động trên khắp thế giới phương Tây bắt đầu cảm thấy rất giống những người đồng nghiệp của họ ở miền Nam bán cầu — họ bắt đầu tin rằng cuộc sống của mình giờ đây không còn ổn định nữa, và rằng tương lai của họ đang mờ mịt dần.
Điều này không xảy ra một cách ngẫu nhiên. Chủ nghĩa tư bản luôn luôn bắt người lao động phải gánh trên vai một nỗi bất an cơ bản mà họ bắt buộc phải gánh, bất kể thời gian, địa điểm, quốc gia hay khu vực nào đi chăng nữa. Trong thời gian gần đây thì các thể chế từng đóng vai trò giảm bớt sự bất an đó hiện đang bị phá dỡ. Sự phá dỡ này được thực hiện bởi các thế lực đang tìm cách khôi phục lại hiện trạng có lợi cho chính họ. Các hành động này được thúc đẩy bởi chính logic của chủ nghĩa tư bản. Và ở các nước nghèo hơn thì sự bành trướng của chủ nghĩa tư bản đã chia cắt các cộng đồng nông thôn, ném nông dân vào thị trường lao động thành thị, đẩy họ vào đội quân dự bị toàn cầu và bắt họ phải tham gia vào một cuộc chiến tàn khốc để sinh tồn. Đối với hàng tỷ người trên thế giới thì đây chính là cách thức mà “thị trường tự do” vận hành.
Cường độ và thời gian làm việc
Ngoài bản chất bất bình đẳng và bất an của nền kinh tế tư bản ra thì tác hại thứ ba còn đến từ việc nó nỗ lực vắt kiệt nhiều công sức nhất với chi phí thấp nhất có thể. Người sử dụng lao động dùng hai cách để vắt kiệt công sức của người lao động: cách thứ nhất là buộc họ làm việc chăm chỉ hơn, và cách thứ hai (có phần nghịch lý) là bắt họ làm việc ít hơn.
Tăng cường độ làm việc: Chiến lược đầu tiên là yêu cầu mỗi công nhân làm việc chăm chỉ hơn, nhanh hơn và lâu hơn. Chiến lược này hiệu quả nhất khi người lao động được trả lương theo ngày. Đây là một hình thức thanh toán lương khá phổ biến vào thế kỷ 19, do người lao động thời đó được trả một khoản tiền cố định cho công việc họ làm mỗi ngày. Ngày nay nó cũng được sử dụng trong một số lĩnh vực kinh tế như nông nghiệp và xây dựng. Sau khi đã trả lương “ngày” cho người lao động thì người sử dụng lao động sẽ cố gắng kéo dài “ngày” đó càng lâu càng tốt. Nếu người lao động được trả lương theo tuần hoặc có thể là hàng tháng thì thời gian làm việc mỗi ngày thường không được xác định rõ ràng. Trong những trường hợp này thì sau khi đã chi trả tiền lương thì người sử dụng lao động thường sẽ kéo dài thời gian làm việc mỗi ngày lên mức nhiều nhất có thể, và thậm chí có thể kéo dài tuần làm việc sang cuối tuần. Họ làm điều này để vắt được nhiều công sức nhất có thể trên số tiền mà họ đã bỏ ra.
Trong các lĩnh vực mà người lao động được trả lương theo giờ thì cách tăng cường độ công việc lại có tính chất mờ mịt hơn. Dù vậy nhưng nó cũng phổ biến, vì phương thức trả lương phổ biến nhất ngày nay là trả lương theo giờ. Phương pháp này không nhằm kéo dài ngày làm việc, hoặc tuần làm việc, mà là giờ làm việc. Nhưng làm thế nào kéo dài được một khoảng thời gian cố định như một giờ đồng hồ? Trước hết, phải nói rằng hiếm khi có trường hợp nhân viên nào tích cực làm việc từng phút, từng giờ tại công sở. Thường thì sẽ có một lượng “thời gian chết” mà nhân viên thường mong chờ có được, và người sử dụng lao động cũng sẽ phải chi trả cho khoảng thời gian này. Đây có thể là thời gian đi vệ sinh, ăn trưa hoặc đơn giản là tạm dừng công việc. Điều này có nghĩa là ngày làm việc thực tế sẽ ngắn hơn ngày làm việc trên lý thuyết. Điều này tượng trưng cho khoảng trống trong ngày làm việc mà người sử dụng lao động sau đó sẽ cố gắng lấp đầy bằng thời gian làm việc thực sự. Ở Mỹ, đây là điều đã xảy ra ở nhiều ngành nghề khi các công đoàn ngày càng yếu đi. Trong ngành công nghiệp ô tô thì “giờ dài 50 phút” vào những năm 1960 đã bị biến thành “giờ dài 57 phút” vào năm 2000. Điều này đồng nghĩa là ngày làm việc đã bị kéo dài ngay cả khi độ dài trên danh nghĩa của ngày vẫn giữ nguyên.
Những ví dụ trên minh họa các cách mà nhà tư bản sử dụng để ép nhân viên làm việc lâu hơn. Kỹ thuật vắt kiệt công sức thứ hai là ép công nhân làm việc nhanh hơn. Điều này đồng nghĩa với việc tăng cường độ lao động. Giả sử có nhân viên trong một nhà máy dệt may sản xuất mỗi ngày một trăm chiếc áo sơ mi, thời gian làm việc mỗi ngày là tám giờ. Tăng cường độ làm việc có nghĩa là họ sẽ bị thúc giục sản xuất nhiều áo sơ mi hơn (chẳng hạn như 120 chiếc) mà vẫn phải sử dụng chính những chiếc máy may đó và phải làm điều này trong cùng 8 giờ đồng hồ đó. Trong cách tăng sản lượng này thì nhà tư bản đang yêu cầu công nhân làm y hệt những gì họ đã làm trước đây, chỉ có điều là nhanh hơn. Trong thế kỷ 20, khi ngày làm việc đã được giới hạn ở mức 8 giờ, thì đây là cách phổ biến nhất mà nhà tư bản sử dụng để vắt kiệt công sức của công nhân. Họ phải sử dụng kỹ thuật này vì họ không có khả năng kéo dài giờ làm việc thêm được nữa. Quả thực, bất cứ khi nào thời gian làm việc bị rút ngắn thì phản ứng của các nhà tư bản là bù đắp cho sự rút ngắn này bằng cách cố gắng tăng cường độ làm việc.
Giảm thời gian làm việc: Động cơ lợi nhuận không chỉ làm hại người lao động bằng cách bắt họ làm việc quá sức. Cái hại cũng xuất phát từ hành động giảm cường độ làm việc. Chúng ta thường nghĩ người sử dụng lao động đang luôn phải quyết định giữa hai hành động: một là thuê nhân công và giữ họ lại, hoặc hai là sa thải họ nếu không cần thiết. Nhưng cũng có một tình trạng ở giữa: vẫn thuê công nhân nhưng lại bắt họ làm việc một cách không thường xuyên. Trong các lĩnh vực như bán lẻ, người sử dụng lao động nhận thấy rằng họ không thể đoán trước được mỗi ngày cần bao nhiêu người lao động vì họ không biết trước được tình hình kinh doanh sẽ ra sao. Nếu họ có quá nhiều nhân viên trong cửa hàng và lượng khách hàng thấp thì điều này có nghĩa là họ vẫn sẽ phải trả lương cho các nhân viên này, cho dù nhiều người trong số đó không thực sự cần thiết. Về mặt lý thuyết thì điều này có nghĩa là tiền lương đã chuyển đổi từ chi phí bất biến thành chi phí khả biến. Những gì người sử dụng lao động muốn có được là quyền được phép tùy ý yêu cầu người lao động đến làm việc hoặc yêu cầu họ về nhà. Họ muốn làm điều này để biến tiền lương trở thành một chi phí khả biến. Đối với người sử dụng lao động thì điều này tạo ra sự linh hoạt. Đối với người lao động, điều đó có nghĩa là lịch trình của họ có thể thay đổi một cách bất thường. Thời gian làm việc của họ có thể nhảy từ mức hai mươi giờ một tuần, đến bảy giờ vào tuần sau, có lẽ là ba mươi lăm giờ vào tuần tiếp theo, và rồi 0 vào tuần tiếp nữa.
Điều này đem lại hai hậu quả. Hậu quả đầu tiên là nó chỉ mang lại cho người lao động một vài giờ làm việc được trả lương trong tháng. Điều này đồng nghĩa với việc người lao động phải chấp nhận sự thật rằng chỉ có một công việc không thôi thì có thể không đủ để họ tồn tại. Họ phải cân nhắc làm hai hoặc ba công việc cùng một lúc để có thể chuyển sang làm công việc khác nếu chỗ làm hiện tại không cho làm đủ giờ. Nhưng chính chiến lược này lại bị ảnh hưởng bởi hậu quả thứ hai của tình trạng thiếu việc: người lao động không thể lên lịch làm việc cố định được vì họ không biết khi nào họ sẽ được yêu cầu phải đến làm việc. Và vì họ không biết khi nào nơi này bắt mình phải làm việc nên họ không thể đảm bảo được rằng mình có thể có mặt ở nơi kia khi người ta yêu cầu mình đến làm hay không. Ngược lại, điều này khiến cho việc duy trì một công việc, hoặc thậm chí kiếm được một công việc, trở nên khó khăn vì người sử dụng lao động nào cũng muốn người lao động luôn sẵn sàng làm việc mỗi họ cần.
Hậu quả thứ hai của tình trạng thiếu việc là toàn bộ cuộc sống của người công nhân giờ đây đã bị nuốt chửng bởi nhu cầu của người chủ. Với công việc bình thường, tức công việc có giờ cố định và lịch trình có thể dự đoán được, thì nhân viên không chỉ biết khi nào họ làm việc mà còn biết khi nào họ không làm việc. Điều này có hệ quả cực kỳ quan trọng, vì nó cho phép họ lên kế hoạch cho các hoạt động ngoài công việc cần thiết cho sức khỏe thể chất và tinh thần của họ như giải trí, dành thời gian cho bạn bè và gia đình, và thậm chí cả các kỳ nghỉ. Nhưng khi công việc vừa khó đoán lại vừa ít ỏi thì công cuộc đấu tranh để được làm việc sẽ vượt qua tất cả các ưu tiên khác. Do vậy, thời gian rảnh không còn “rảnh” theo đúng nghĩa nữa. Người lao động không thể lên kế hoạch cho bất cứ hoạt động gì cả, đơn giản vì họ không biết khi nào họ có thể bị bắt đi làm. Họ không thể lên kế hoạch cho những chuyến đi cùng gia đình, và không thể bỏ ra một hai ngày để đi ra ngoại tỉnh; thậm chí đến cả việc đi xem phim cũng căng thẳng. Do đó, ranh giới giữa thời gian làm việc và thời gian rảnh rỗi đã bị xóa bỏ.
Khi kết hợp tác động của việc làm việc quá ít với làm việc quá nhiều thì có thể thấy rằng chủ nghĩa tư bản, nếu không bị giới hạn, sẽ có xu hướng xóa bỏ ranh giới giữa thời gian làm việc và thời gian rảnh rỗi. Động lực không ngừng vắt kiệt sức lao động của nhân viên có tác động trực tiếp đến chất lượng thời gian rảnh của người lao động. Trong trường hợp làm việc quá sức thì người lao động có thể mệt mỏi hoặc phải chịu chấn thương. Do vậy nên thời gian rảnh rỗi sẽ phải được dành để hồi phục thay vì được tận dụng để phát triển những tài năng khác, hoặc ở bên bạn bè. Trong trường hợp thời gian làm việc biến thiên thì nếu không có đủ việc, và nếu không biết khi nào hoặc thậm chí liệu mình có được gọi đến làm hay không, thì công nhân không thể mạo hiểm tham gia vào bất cứ hoạt động nào khác vì họ có thể không có mặt khi người chủ gọi. Do đó, trong chủ nghĩa tư bản, ngay cả thời gian nghỉ làm của người lao động cũng bị đô hộ bởi công sở và các đòi hỏi của nó.
Vấn đề nằm ở chính các quy tắc
Nội dung bài viết từ đầu đến giờ đã giúp chúng ta hiểu tại sao chủ nghĩa tư bản có thể tạo ra của cải và sự xa hoa khổng lồ như vậy nhưng vẫn khiến hàng triệu người phải vật lộn để tồn tại. Hầu hết mọi người đều không thể kiểm soát các điều kiện cơ bản trong cuộc sống của họ – họ có bao nhiêu tiền, họ có giữ được việc không, và giờ làm việc của họ kéo dài bao lâu. Hơn nữa, những quyết định về các yếu tố này đều được đưa ra bởi những người có lợi ích gắn liền với việc hạn chế các điều kiện cơ bản này của người lao động. Sự hạn chế các điều kiện cơ bản này thực chất là một phần thiết yếu của chính hệ thống tư bản. Đó là kết quả tự nhiên của chiến lược tối đa hóa lợi nhuận mà mọi doanh nghiệp đều theo đuổi. Các nhà tư bản không hạn chế phúc lợi của nhân viên vì họ xấu tính, tham lam hay nhẫn tâm. Họ làm điều này bởi vì đó là cách họ tồn tại và phát triển. Chừng nào các doanh nghiệp còn cạnh tranh trên thị trường thì chủ sở hữu và những người quản lý sẽ bị trừng phạt nếu họ không vắt kiệt tối đa sức lao động của nhân viên. Vì vậy, họ phải làm những điều này để tồn tại, và kết quả tự nhiên nhất là việc kiếm lời của họ khiến nhân viên phải trả giá.
Đây là lý do tại sao lời hứa rằng nếu bạn làm việc chăm chỉ và tuân thủ luật lệ thì bạn sẽ thăng tiến thì chỉ là lời nói dối. Chính các luật lệ này mới là những thứ tạo ra sự đau khổ. Cấu trúc cơ bản của chủ nghĩa tư bản thực chất rất đơn giản – mỗi ngày bạn phải đi làm, khi làm việc thì phải chăm chỉ, và sếp bảo gì thì phải tuân lời. Lời hứa là nếu bạn tuân thủ những quy tắc này thì bạn sẽ được đền đáp bằng một cuộc sống tốt đẹp. Lời hứa này dựa trên một tiền đề rất đơn giản – rằng phần thưởng bạn nhận được sẽ tỉ lệ thuận với nỗ lực bạn bỏ ra. Nếu bạn làm việc chăm chỉ thì sẽ được đền đáp xứng đáng. Nhưng bí mật của chủ nghĩa tư bản là nỗ lực không liên quan gì tới phần thưởng. Những người làm việc trong viện dưỡng lão, nhà hàng, nhà kho hoặc trong bếp đều tạo ra lợi nhuận khổng lồ cho người chủ của mình. Nhưng tiền lương của họ không chỉ không tương xứng với nỗ lực, mà họ còn phải đối mặt với tình trạng bất ổn kinh niên trong công việc và những giờ làm việc khủng khiếp. Họ đang tuân theo luật lệ của chủ nghĩa tư bản. Nhưng phần thưởng sẽ về tay người sử dụng lao động chứ không phải họ. Đây là thực tế cơ bản về chủ nghĩa tư bản, và nó cũng là bản chất của chính hệ thống này. Đó là điều kiện tự nhiên của một hệ thống kinh tế trong đó phần lớn dân số chỉ có hai lựa chọn đơn giản dưới đây: “Một là chấp nhận mức lương đề nghị, hai là thất nghiệp.” Trong chủ nghĩa tư bản thì điều quyết định số phận kinh tế của con người không phải là nỗ lực, mà là quyền lực. Và người sử dụng lao động luôn luôn có nhiều quyền lực hơn người lao động.
Thay đổi quy tắc
Một cách khác để tóm tắt mọi điều chúng ta đã nói cho đến nay là: Chủ nghĩa tư bản tạo ra sự bất công một cách có hệ thống. Hầu hết mọi lý thuyết về công lý hiện đại đều đồng ý rằng một xã hội chỉ có thể được coi là nhân đạo nếu những nhu cầu vật chất cơ bản của mọi người đều được đáp ứng và mọi người đều có quyền tự do đặt ra các mục tiêu và ưu tiên của riêng mình. Mọi người cần có sự đảm bảo về điều kiện vật chất cơ bản và quyền tự do lựa chọn cách sử dụng thời gian và sức lực của mình. Điều này không có nghĩa là họ phải thoát khỏi mọi ràng buộc. Trong bất kỳ hệ thống xã hội quy mô lớn nào thì con người sẽ phải chấp nhận một số giới hạn được đặt lên quyền tự do và lựa chọn xã hội của mình. Nhưng đối tượng mà họ phục tùng phải chịu trách nhiệm giải trình, phải có tính chính đáng và không được phép làm suy yếu phúc lợi của các nhóm khác. Nhưng đây chính xác là những gì chủ nghĩa tư bản đang làm – nó đẩy đại đa số người dân vào tình trạng bất an, và bắt họ phải chịu đựng quyền lực độc đoán.
Về bản chất, bằng cách ký hợp đồng lao động thì người lao động đang trao lại quyền tự chủ cho nhà tư bản. Tất nhiên, điều này có nghĩa là người lao động đồng ý vâng lời sếp khi làm việc – họ mất quyền kiểm soát cách họ làm việc, cường độ làm việc ra sao, khi nào nên vào và ra, khi nào được đi vệ sinh, v.v. Trong tám giờ làm việc thì người lao động thực chất đang từ bỏ quyền tự chủ về các khía cạnh sức khỏe của chính mình. Nhưng họ cũng có rất ít hoặc không có quyền quyết định số tiền lương mà mình nhận được. Tất cả những điều này có nghĩa là trong chủ nghĩa tư bản thì việc trở thành công nhân đồng nghĩa với việc thực hiện một cuộc trao đổi: bạn từ bỏ quyền tự do của mình trên nhiều lĩnh vực của đời sống, cả trong và ngoài nơi làm việc, để đổi lấy việc làm.
Việc chịu sự quản lý của người khác về bản chất không phải là điều đáng chê trách. Gia đình là ví dụ điển hình. Phụ huynh gần như có toàn quyền quyết định đời sống của con cái mình, bao gồm mọi khía cạnh trong cuộc sống của con trẻ. Nhưng ta thường không phản đối điều này vì ta thường cho rằng cha mẹ sẽ sử dụng quyền lực này để đem lại lợi ích của con cái họ. Tuy nhiên, trong trường hợp quan hệ việc làm thì người sử dụng lao động không sử dụng quyền lực để đảm bảo phúc lợi cho nhân viên. Động lực của họ là tối đa hóa lợi nhuận và giảm thiểu chi phí. Lợi ích của nhân viên không phải là điều mà họ xem xét. Như chúng ta đã thấy, việc tối đa hóa lợi nhuận thường phải đánh đổi bằng lợi ích của nhân viên. Do đó, theo quan điểm của người lao động thì điều này không gì khác việc phải chịu sự quản lý của một cơ quan có thẩm quyền độc đoán. Họ không có quyền kiểm soát quyền lực của ông chủ, và quyền lực đó thường được sử dụng theo cách làm suy yếu phúc lợi của chính họ.
Đây là cách chủ nghĩa tư bản tạo ra sự bất công. Và đó cũng là lý do tại sao nó tạo ra sự phản kháng. Nhân viên bực bội khi phải chấp nhận bất cứ mức lương nào mà ông chủ muốn trả cho họ; họ ghét bị sai bảo khi làm việc; họ lo lắng vì dù làm việc chăm chỉ nhưng không thể chắc chắn liệu ngày mai họ có còn việc làm hay không, v.v. Vì vậy, họ cố gắng chống trả để có được điều kiện làm việc và mức lương thưởng tốt hơn. Cách thức làm điều này phổ biến nhất là thông qua hành động cá nhân. Đây không phải là điều lạ, vì công nhân cạnh tranh riêng lẻ trên thị trường lao động với tư cách cá nhân và được tuyển dụng trên cơ sở cá nhân. Mọi khía cạnh của công việc đều khuyến khích họ hành động với tư cách là cá nhân. Vậy thì người lao động có thể chống trả bằng cách nào nếu họ hành động một mình?
Vũ khí tối thượng là đe dọa bỏ việc trừ khi người chủ đưa ra thỏa thuận tốt hơn. Và đối với một số công nhân thì điều này có thể có hiệu quả. Nhưng nó chỉ có tác dụng nếu nhân viên đó khó thay thế, tức người này có biệt tài, rất giỏi hoặc có giá trị theo một cách nào đó. Nếu đúng như vậy thì có lẽ sếp sẽ phải mủi lòng và ít nhất cũng phải cân nhắc những yêu cầu từ nhân viên này. Tuy nhiên, một cách khác mà người lao động có thể phản đối không phải là đòi hỏi nhiều hơn mà là làm việc ít hơn. Vì vậy, thay vì bước vào văn phòng của sếp và đòi giảm cường độ làm việc hoặc thời gian làm việc thì người này có thể quyết định làm việc chậm hơn, nghỉ ốm càng nhiều càng tốt, hoặc không làm việc đạt chất lượng yêu cầu – nói cách khác là trốn tránh và do đó giành lại một phần thời gian của mình. Trong những trường hợp cực đoan hơn thì người này có thể giải tỏa sự tức giận bằng cách phá hoại nơi làm việc.
Nhưng tất cả những phương pháp này đều không thực sự hiệu quả, hoặc chỉ hiệu quả đối với một số nhân viên may mắn. Mặc dù ông chủ có thể sẽ đưa ra mức lương tốt hơn cho nhân viên có tay nghề cao, nhưng thực tế là đại đa số công nhân rất dễ bị thay thế. Vì vậy, nếu một nhân viên bình thường bước vào văn phòng của sếp và dọa nghỉ việc thì khả năng cao là người này sẽ mất việc. Và mặc dù cá nhân người lao động chắc chắn có thể phản kháng bằng cách trốn tránh này, nhưng nếu họ làm điều này trong một khoảng thời gian dài mà không có sự tham gia của đồng nghiệp thì hành động phản kháng này sẽ dễ bị phát hiện, và sớm muộn thì người này cũng sẽ mất việc. Do đó, đối với đại đa số những người làm công ăn lương thì các hành động dừng lại ở cấp độ cá nhân về cơ bản là không đủ. Họ vẫn phải làm công việc hiện tại, phải chấp nhận mức lương được đưa ra, chấp nhận thời gian làm việc, và phải làm đi làm lại điều này. Lý do vừa đơn giản vừa hiển nhiên – việc thay thế một nhân viên bất mãn, thậm chí năm hoặc mười người, là việc rất đơn giản.
Vì vậy, cách thức chống đối khả thi duy nhất là hành động tập thể. Con đường trực tiếp nhất là thông qua các tổ chức cho phép hành động tập thể. Người lao động nhận thấy rằng việc đưa ra các yêu cầu riêng lẻ là không khả thi vì một nhân viên rất dễ bị thay thế. Nhưng thay thế mười người thì khó hơn, và một trăm còn khó hơn nữa. Khi một công nhân lao động với tốc độ chậm hơn thì điều đó được gọi là trốn tránh. Khi cả nghìn người làm việc chậm hơn thì điều này được gọi là đình công. Vấn đề của một người thì có thể giải quyết thông qua trừng phạt, nhưng vấn đề của hàng ngàn người thì chỉ có thể giải quyết qua thương lượng. Chính thực tế đơn giản này đã truyền cảm hứng cho phong trào lao động hiện đại vào đầu thế kỷ 19. Thực tế này không chỉ giúp phong trào này tồn tại mà còn là trung tâm của mọi nỗ lực nhằm cải thiện hoàn cảnh của người lao động ở mọi nơi trên thế giới. Ngay cả ngày nay, chúng ta cũng chưa tìm thấy cách thức bảo vệ phúc lợi của người nghèo và người lao động nào hiệu quả hơn công đoàn. Điều này đúng bởi vì công đoàn vẫn là phương tiện hành động tập thể hiệu quả nhất.
Một cách gián tiếp hơn để giúp người lao động tìm ra giải pháp tập thể là thông qua chính sách và sự bảo vệ của nhà nước. Thay vì đòi quyền tiếp cận hàng hóa thiết yếu bằng cách thương lượng với ông chủ để tăng lương thì nhà nước có thể chu cấp cái này cho người lao động. Chăm sóc sức khỏe là ví dụ điển hình. Hầu hết người lao động không đủ khả năng chi trả cho dịch vụ chăm sóc y tế trên thị trường vì nó quá đắt. Một giải pháp là dựa vào công đoàn để yêu cầu mức lương cao hơn hoặc yêu cầu người sử dụng lao động phải cung cấp bảo hiểm y tế. Nhưng một con đường khác là thúc đẩy hình thành một dịch vụ y tế quốc gia, giống như ở phần lớn châu Âu. Dịch vụ này coi sự chăm sóc y tế như là quyền lợi. Do đó, bệnh nhân không phải chi trả viện phí mà các chi phí khám chữa bệnh đều do nhà nước chi trả từ nguồn thu thuế. Điều này có thể được mở rộng sang nhiều hàng hóa thiết yếu khác như chăm sóc trẻ em, nhà ở, giáo dục, v.v.
Cả hai chiến lược này đều có điểm chung là chúng bác bỏ quan điểm cho rằng số phận của con người phải phụ thuộc vào mức độ hoạt động của họ trên thị trường lao động. Nói cách khác, họ từ chối để thị trường quyết định cuộc sống của mình. Họ nhấn mạnh rằng con người luôn phải nằm trên lợi nhuận. Đây là lý do tại sao cánh tả luôn cố gắng xây dựng các tổ chức lao động, luôn đấu tranh để giành được lợi ích kinh tế dưới dạng quyền lợi chứ không phải đặc quyền – và xây dựng các thể chế xã hội nhằm làm sâu sắc hơn các quyền đó. Nhưng đây không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Sau cùng thì sức mạnh của các thể chế này dựa vào sức mạnh của công đoàn, và vì các thể chế này làm suy yếu sức mạnh của tư bản nên bất kỳ phong trào nào ủng hộ chúng thì ngay lập tức sẽ dấy lên phản ứng từ giai cấp thống trị. Cho dù ở nơi nào hay thời gian nào đi nữa thì người sử dụng lao động và người giàu đều chống lại những nỗ lực của người nghèo nhằm tạo ra các thể chế giúp họ có được mức độ công bằng kinh tế cao hơn.
Vậy câu hỏi tiếp theo là, làm cách nào để chúng ta làm được điều này? Làm thế nào chúng ta có thể tạo ra các thể chế thúc đẩy lợi ích cơ bản của người lao động? Đây là những câu hỏi chúng ta sẽ đề cập trong các chương tiếp theo.
Admin của VNYM










