Bài phát biểu của Olof Palme tại cuộc biểu tình ủng hộ Việt Nam ngày 21 tháng 2 năm 1968
Bản dịch bài phát biểu của Palme, Bộ trưởng Giáo dục, tại cuộc biểu tình vì Việt Nam ngày 21 tháng 2 năm 1968
Mục tiêu của dân chủ không bao giờ có thể đạt được bằng sự áp bức. Không thể “cứu” một ngôi làng bằng cách xóa sổ nó, đốt đồng ruộng, phá hủy nhà cửa, bắt giữ hay sát hại người dân. Đó là những nguyên tắc cơ bản để phán xét cuộc chiến tranh ở Việt Nam.
Làn sóng phản đối chiến tranh Việt Nam ngày càng mạnh mẽ vì nó dựa vào các sự thật. Cuộc chiến này không phải là một sự lầm lạc tạm thời, cũng không phải là một cuộc khủng hoảng đột ngột bùng phát. Nó có một lịch sử dài, với những sự kiện diễn ra theo một logic khắc nghiệt.
Ba mốc thời gian đặc biệt quan trọng trong chuỗi sự kiện đó. Mốc đầu tiên là năm 1945. Khi đó, Việt Nam là thuộc địa của Pháp. Trong tham vọng xây dựng một đế quốc châu Á, Nhật Bản đã chiếm lấy Việt Nam. Sau khi Nhật Bản bại trận, niềm tin vào tính thượng đẳng của người da trắng đã bị lung lay.
Khi Pháp cố gắng tái chiếm thuộc địa của mình, họ đã gặp phải một dân tộc đòi quyền tự quyết. Phong trào kháng chiến chống Nhật trở thành hạt nhân của một phong trào rộng lớn hơn, đòi chấm dứt mọi sự can thiệp từ nước ngoài.
Phong trào này lấy cảm hứng từ Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và đã đặt niềm tin vào nước Mỹ trong cuộc đấu tranh giành độc lập. Người ta tin rằng Hoa Kỳ đã hứa hẹn sẽ ủng hộ điều đó. Phong trào này đã tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Tuy nhiên, các cường quốc thực dân đã quyết định tái chiếm và khôi phục quyền thống trị bằng vũ lực. Hoa Kỳ đã chọn đứng về phía Pháp. Đó là cách mà cuộc chiến ở Việt Nam bắt đầu: một cuộc chiến chống lại những kẻ xâm lược từ bên ngoài. Và đó cũng chính là cuộc chiến vẫn đang tiếp diễn.
Pháp và các đồng minh bản xứ của họ đã thất bại. Họ không nhận được sự ủng hộ từ nhân dân. Cuộc chiến lan rộng ra khắp các vùng của đất nước. Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ. Vào đầu những năm 1950, có khả năng người Mỹ đã chi trả 70% đến 80% chi phí chiến tranh của Pháp. Nhưng điều đó cũng không giúp gì được. Giấc mộng về một đế quốc thuộc địa của Pháp tan vỡ tại Điện Biên Phủ.
Sau đó, các cuộc đàm phán hòa bình bắt đầu tại Geneva. Và như vậy, chúng ta đến với mốc thời gian thứ hai: năm 1954.
Hiệp định ngừng bắn trong cuộc chiến Việt Nam được ký kết vào ngày 20 tháng 7 năm 1954. Đất nước bị chia cắt tạm thời. Nhưng đường chia cắt đó chỉ là một giới tuyến quân sự, mang tính chất tạm thời. Theo thỏa thuận, sau hai năm — tức là vào tháng 7 năm 1956 — sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do dưới sự giám sát quốc tế trên toàn lãnh thổ. Sau đó, đất nước sẽ được thống nhất.
Tuy nhiên, Hoa Kỳ phản đối hiệp định Geneva. Hoa Kỳ từ chối ký vào văn bản thỏa thuận đó. Không có cuộc bầu cử tự do nào được tổ chức. Việt Nam vẫn bị chia cắt. Hoa Kỳ tuyên bố rằng họ muốn xây dựng một chính quyền dân chủ mạnh mẽ ở miền Nam Việt Nam.
Để thực hiện phương án này, Mỹ đổ vào miền Nam các khoản viện trợ khổng lồ và hỗ trợ tổ chức bộ máy chính quyền. Tuy nhiên, chế độ ở Sài Gòn, với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ, lại kết hợp sự đàn áp tàn bạo của một chế độ độc tài với sự khinh miệt hoàn toàn đối với các yêu cầu công bằng xã hội và kinh tế của người dân.
Có một chút đề cập đến cải cách ruộng đất. Việt Minh đã chia ruộng cho nông dân. Nhưng các địa chủ cũ và giới cho vay nặng lãi đã theo sau các đoàn xe quân đội, những kẻ tự xưng là “người giải phóng” khi đến các làng mạc. Nhưng đối với nông dân, đó không phải là người giải phóng, mà chính là những kẻ áp bức cũ trở lại.
Vì vậy, nhân dân đã nổi dậy chống lại chế độ ở Sài Gòn. Không có gì mâu thuẫn với thực tế rằng, khi chiến sự bùng phát trở lại, bản chất của cuộc chiến chủ yếu là một cuộc nổi dậy tự phát của quần chúng chống lại một chế độ tham nhũng và bị căm ghét.
Cũng như Pháp đã thất bại, chế độ Sài Gòn cũng thất bại. Người dân lâm vào cảnh đói nghèo, trong khi tham nhũng tràn lan.
Hoa Kỳ ngày càng can thiệp sâu hơn. Quá trình leo thang bắt đầu. Số lượng “cố vấn” tăng lên, rồi trở thành đơn vị tác chiến, rồi thành sư đoàn, rồi thành các lực lượng viễn chinh quy mô lớn, với hàng trăm nghìn binh sĩ.
Bộ máy quân sự lớn nhất thế giới đã bắt đầu sử dụng toàn bộ sức mạnh của mình để dập tắt kháng chiến ở một quốc gia nhỏ bé, nhưng vẫn thất bại.
Nhưng tình hình vẫn tiếp tục tồi tệ. Vậy là chúng ta đã đến mốc thời gian thứ ba: tháng Hai năm 1965, tức là ba năm trước. Vào thời điểm đó, chiến dịch ném bom miền Bắc Việt Nam bắt đầu. Vì cuộc chiến tranh Việt Nam được tuyên bố là hành động của một kẻ xâm lược nước ngoài, đòn tấn công phải nhắm vào kẻ xâm lược đó. Không có tuyên bố chiến tranh nào được đưa ra. Đến nay, tuyên bố ấy vẫn chưa được ban hành. Nhưng trong ba năm đó, số bom trút xuống miền Bắc Việt Nam còn nhiều hơn số bom đã ném xuống nước Đức Quốc xã trong Thế chiến thứ hai. Chúng ta biết điều đó có nghĩa là gì: sự tàn phá vật chất, và những đau khổ cho từng con người.
Chúng ta cảm thấy xúc động, cảm thông, tuyệt vọng trước những sự kiện này. Nhưng cảm xúc có thể bùng lên rồi lụi tắt nhanh chóng nếu chúng không dựa trên một lý do hay một hoàn cảnh cụ thể.
Vì vậy, chúng ta cần hiểu rằng những đau khổ ấy là hậu quả cay đắng, hợp lý của một chính sách sai lầm và hoàn toàn phi lý suốt 20 năm qua.
Người ta đôi khi tranh luận rằng: chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam là do sai lầm hay là biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc tư bản?
Quan điểm của tôi là: Không một nhà tư bản sáng suốt nào có thể hành động ngu ngốc đến thế, trừ khi có lợi ích kinh tế đứng sau.
Dù đã đầu tư một khoản tiền khổng lồ cho chiến dịch quân sự, tình hình của Mỹ ở Việt Nam vẫn ngày càng tồi tệ hơn. Người ta đặt câu hỏi với sự lo lắng: Liệu Mỹ có dùng vũ khí hạt nhân không? Nếu vậy, ai sẽ còn sống để “giải phóng”? Và điều đó chẳng phải sẽ đồng nghĩa với chiến tranh thế giới thứ ba hay sao? Liệu sẽ có đòn tấn công nào vào hệ thống đê điều của sông Hồng không? Điều đó sẽ đồng nghĩa với tai họa cho hàng triệu con người.
Hay liệu chuỗi ảo tưởng và thất bại này cuối cùng sẽ chấm dứt bằng việc trao cho nhân dân Việt Nam hòa bình và quyền tự quyết dân tộc?
Từ “đàm phán” đã trở nên nhàm chán. Đối với nhiều người Việt Nam, nó gợi lên sự phản bội. Với họ, đàm phán không phải là kết thúc của chiến tranh, mà là khởi đầu của sự phản bội.
Vì vậy, họ muốn có những đảm bảo thực sự, rằng đàm phán không chỉ là một lệnh ngừng bắn tạm thời, mà sẽ dẫn đến kết quả rõ ràng: hòa bình và tự do khỏi sự xâm lược của nước ngoài.
Họ đã bị buộc phải trở thành những người thực tế, vì họ đã phải hứng chịu trải nghiệm cay đắng.
Người ta đôi khi nói rằng Hà Nội và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam không muốn đàm phán, rằng họ từ chối mọi đề xuất. Nhưng điều đó không hoàn toàn đúng.
Gần đây nhất, trong thông điệp đầu năm, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đã tuyên bố rằng Bắc Việt Nam sẵn sàng bước vào đàm phán nếu Mỹ chấm dứt ném bom vô điều kiện.
Vì vậy, dư luận quốc tế ngày càng mạnh mẽ và thống nhất đã cùng nhau đưa ra một lời kêu gọi gửi đến Hoa Kỳ: Hãy chấm dứt việc ném bom Bắc Việt Nam một cách vô điều kiện. Hãy công nhận Mặt trận Dân tộc Giải phóng là đối tác ngang hàng tại bàn đàm phán.
Chỉ khi đó mới có thể bắt đầu đàm phán thực sự. Và khi ấy, mới có thể có hòa bình. Và khi ấy, nhân dân Việt Nam mới có thể giành được quyền tự quyết dân tộc.
Các chính phủ châu Âu phải có nghĩa vụ rõ ràng: thể hiện lập trường này một cách mạnh mẽ và dứt khoát. Từ thực tế và những đánh giá trên, chúng ta có thể rút ra một số kết luận:
Hoa Kỳ nói rằng họ muốn bảo vệ quyền dân chủ của người dân Việt Nam khỏi sự xâm lược từ bên ngoài. Nhưng nếu thực sự nói về dân chủ ở Việt Nam, thì rõ ràng điều đó được thể hiện rõ rệt hơn qua Mặt trận Dân tộc Giải phóng, chứ không phải Hoa Kỳ hay các tập đoàn quân sự mà họ hậu thuẫn. Đây là một khẳng định dựa trên thực tế. Đặc điểm chính của dân chủ là gì? Đó là sự ủng hộ và gắn bó của nhân dân.
Không ai phủ nhận rằng năm 1945, Hồ Chí Minh được nhân dân ủng hộ trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân Pháp. Không ai phủ nhận rằng nếu cuộc bầu cử tự do theo Hiệp định Genève được tổ chức vào năm 1956, Việt Minh sẽ giành chiến thắng áp đảo.
Tổng thống Eisenhower đã thừa nhận rằng Hồ Chí Minh có thể nhận được tới 80% số phiếu. Vì lý do đó mà cuộc bầu cử đã không diễn ra.
Cũng không ai phủ nhận rằng chế độ Diệm, được Mỹ dựng lên ở Sài Gòn để làm “giải pháp dân chủ thay thế”, đã bị người dân căm ghét sâu sắc. Nó bị lật đổ vào năm 1963 và không ai tiếc nuối gì nó.
Cũng không ai thực sự dám nói rằng chính quyền quân sự hiện tại ở Sài Gòn có được sự ủng hộ từ nhân dân. Ai cũng biết rằng: tham nhũng, bất tài, và sự thờ ơ với các nhu cầu xã hội đang lan tràn hơn bao giờ hết.
Một chính quyền phải dựa vào hơn 500.000 lính Mỹ để tồn tại dù chỉ một ngày thì không thể nói là có sự ủng hộ từ nhân dân được.
Những cuộc giao tranh xảy ra trong vài tuần gần đây đã cho thấy rõ ràng với dư luận toàn thế giới rằng chiến tranh Việt Nam là một cuộc khởi nghĩa chống lại những kẻ chà đạp lên các quyền cơ bản về xã hội và con người.
Cuộc khởi nghĩa này là một phong trào xã hội với cội rễ sâu xa trong lòng nhân dân. Nếu không có sự ủng hộ từ quần chúng, thì những cuộc tấn công vào các thành phố trên khắp miền Nam Việt Nam đã không thể diễn ra hiệu quả đến vậy.
Nhưng có người sẽ nói: “Có thể hôm nay Mặt trận có được sự ủng hộ của nhân dân, nhưng chúng ta không thể ủng hộ Mặt trận, bởi nếu họ thắng và lên nắm quyền, thì chính họ sẽ đàn áp nhân dân.”
Hiện nay, chúng ta không thể biết chắc điều đó, vì Mặt trận chưa có nhiều cơ hội để thể hiện hành động của mình trong thời bình. Tuy nhiên, chúng ta có thể xem xét chương trình hành động của Mặt trận. Tôi đề nghị nên đọc kỹ chương trình đó. Họ kêu gọi một liên minh rộng rãi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, và thành lập một chính phủ liên minh sau khi chiến thắng. Chương trình chính sách đối nội của họ có thể được các đảng chính trị ở Thụy Điển chấp nhận. Tuy nhiên, rõ ràng rằng chúng ta không thể hôm nay đứng ra quyết định hay chịu trách nhiệm về những gì một phong trào ở một quốc gia khác sẽ làm khi họ lên nắm quyền.
Những phản đối chủ yếu đều bắt nguồn từ quan điểm nguyên tắc. Chúng ta phải hỏi: trên cơ sở nào mà ta có quyền phủ nhận quyền lựa chọn chính quyền của người dân Việt Nam?
Dân chủ không thể trở thành người giám hộ của các dân tộc khác. Trái lại, việc đó là một sự lạm dụng ý tưởng dân chủ.
Có thể ai đó sẽ nói: “Ở Việt Nam, hàng ngàn lính Mỹ đã chết. Họ nghĩ rằng họ đang chiến đấu vì lý tưởng dân chủ.” Không nghi ngờ gì, đó là một điều kinh khủng. Thật kinh khủng khi những người trẻ tuổi bị giết, bị thương, bị tàn phế: hi sinh một cách vô ích cho một mục tiêu không xứng đáng, trong một cuộc chiến tranh phi lý.
Họ đáng lẽ có thể đã đảm nhận những nhiệm vụ quan trọng trong việc xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở chính đất nước của họ, hoặc trong công cuộc chống nghèo đói và đói khát trên toàn thế giới.
Họ đáng lẽ có thể đã gìn giữ truyền thống trung thực và hào hiệp, dấn thân táo bạo vì tương lai – điều vẫn còn tồn tại ở nước Mỹ. Một dư luận quốc tế tích cực nên có khả năng, trong nhiều phương diện, giúp tạo điều kiện cho những người trẻ này có cơ hội như vậy.
Trong nhiều năm qua, chúng ta đã nghe rằng cuộc chiến ở Việt Nam cũng là cần thiết để bảo vệ tự do dân chủ của các quốc gia khác khỏi sự xâm lược của Trung Quốc. Họ nói rằng nếu Việt Nam thất bại, thì cả Đông Nam Á sẽ thất bại, và tất cả các quốc gia trong thế giới sẽ gặp nguy hiểm khi bị đẩy xuống sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc mới, với trung tâm là Bắc Kinh.
Tất cả các quốc gia dân chủ vì vậy nên, theo lý luận này, ủng hộ sự can thiệp quân sự của Mỹ ở Việt Nam vì lợi ích của chính mình.
Lập luận này đã được đưa ra từ năm 1945, như là một lý do để ủng hộ ý đồ thực dân của Pháp. Điểm khác biệt duy nhất là chế độ Bắc Kinh hiện nay không tồn tại vào thời điểm đó. Và lập luận này thực sự không thuyết phục. Có thể, thực tế lại trái ngược. Ví dụ, nó không để ý đến lịch sử của Việt Nam. Nhưng đó là khía cạnh chính mà tôi đặc biệt quan tâm.
Vì vậy, chúng ta bị yêu cầu phải thủ tiêu quyền tự quyết quốc gia của người dân Việt Nam và phúc lợi của họ (sự tồn tại vật chất của một dân tộc nhỏ bé) để chúng ta có thể sống trong sự an toàn hơn.
Đây không phải là cách mà chúng ta muốn đối mặt với tương lai của mình. Bởi vì, hậu quả cuối cùng của dòng suy nghĩ này, đặc biệt nếu tình huống này được lặp lại liên tục, là gì? Quyền tự quyết quốc gia sẽ trở thành một mối đe dọa, giải phóng xã hội sẽ trở thành một mối nguy hiểm, và sự thay đổi trật tự đã thiết lập sẽ bị ngăn cản.
Chúng ta được kêu gọi bảo vệ các lợi ích của những nhóm đặc quyền, bảo vệ cách sống mà những người giàu có được hưởng. Và vòng tròn này sẽ càng ngày càng trở nên hạn chế.
Vì người dân sẽ bắt đầu tìm kiếm tự do của họ, nhu cầu giải phóng xã hội sẽ ngày càng mạnh mẽ, khát vọng công lý, tiêu chuẩn sống tốt hơn, và tự do khỏi nghèo đói và nạn đói sẽ dần dần để lại dấu ấn trên thế giới mà chúng ta đang sống.
Nếu chúng ta cố gắng xây dựng những bức tường kiên cố xung quanh những người giàu có, thì con đường này sẽ dẫn đến chủ nghĩa phản động và chủ nghĩa phát xít trong nền văn minh của chúng ta. Nhưng không nhất thiết phải như vậy.
Lý do là vì trong dư luận quốc tế có một dòng chảy khác đang phát triển, một dòng chảy ngày càng mạnh mẽ, dòng chảy của sự đoàn kết quốc tế, dựa vào lòng nhân ái và tình huynh đệ vượt qua biên giới, thừa nhận quyền con người, và nhận ra rằng thực tế xã hội mới là điều cần thay đổi đầu tiên.
Đôi khi, người ta nói rằng Châu  ủng hộ chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Người ta nói rằng chỉ có những nhóm nhỏ bị thúc đẩy bởi sự hận thù mù quáng đối với Hoa Kỳ mà tham gia vào các cuộc biểu tình này. Điều này là sai. Sự thật là phần lớn mọi người ở Châu Âu đều muốn chấm dứt những khổ đau, muốn dân tộc Việt Nam được quyền quyết định tương lai của chính mình.
Dư luận dân chủ không nhìn chiến tranh của Hoa Kỳ ở Việt Nam như là một sự hỗ trợ cho dân chủ, mà là mối đe doạ đối với các ý tưởng dân chủ, không chỉ ở Việt Nam mà còn trên toàn thế giới. Chúng ta tin vào dân chủ vì một hệ thống chính phủ dân chủ, dù có những thiếu sót của nó, vẫn mang lại sự tham gia tích cực và quan tâm đến từng cá nhân mà không chế độ độc tài nào có thể mơ ước đạt được.
Tuy nhiên, dân chủ không bao giờ có thể đồng nghĩa với việc chống lại tự do dân tộc và công lý xã hội. Nó phải là con đường dẫn đến giải phóng con người. Chúng ta không muốn một tương lai mà những người giàu có bảo vệ quyền lợi đặc quyền của họ bằng vũ lực. Chúng ta muốn một thế giới bình đẳng, nơi mọi người có thể sống.
Vì vậy, Việt Nam không phải là nơi xa lạ. Người dân Việt Nam gần gũi với chúng ta, và họ xứng đáng được sống trong hoà bình và độc lập. Đó là quyền tự quyết của họ, và chúng ta cần làm mọi thứ có thể để hỗ trợ quyền chính đáng này.
Admin của VNYM










