Bản thảo kinh tế triết học (1844) – Bản thảo thứ nhất – Địa tô

  • *Mục lục Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844

  • Lời tựa.
  • [Bản thảo thứ nhất]

    1. Tiền công

    2. Lợi nhuận tư bản 

  • Tư bản.
  • Lợi nhuận tư bản.
  • Sự thống trị của tư bản đối với lao động và động cơ của nhà tư bản.
  • Tích luỹ tư bản và cạnh tranh giữa các nhà tư bản
  • 3. Địa tô

    [Bản thảo thứ hai]

    Lao động bị tha hoá.

    [Quan hệ sở hữu tư nhân.]

    [ Bản thảo thứ ba]

  • Bản chất của chế độ tư hữu trong sự phản ánh của kinh tế chính trị học.
  • Chủ nghĩa cộng sản.
  • Nhu cầu, sản xuất và phân công.
  • Tiền
  • Phê phán phép biện chứng và triết học nói chung của Hê-ghen.

 

BẢN THẢO THỨ NHẤT

 

3. ĐỊA TÔ

[I] Quyền của những người sở hữu ruộng đất bắt nguồn từ sự tước đoạt (Say. T.I, Tr.136, chú thích). Những người sở hữu ruộng đất, cũng như tất cả mọi người, muốn gặt ở những nơi họ không gieo và đòi hỏi địa tô ngay cả về sản phẩm tự nhiên của đất đai (Smith. T. I, p.99) [Bản dịch tiếng Nga, tr. 52].

"Người ta có thể nghĩ rằng địa tô chỉ là lợi nhuận của tư bản mà người sở hữu dùng vào việc cải thiện đất đai… Có những trường hợp địa tô có thể được coi một phần là thứ lợi nhuận đó… Song:

 1) người sở hữu ruộng đất đòi hỏi địa tô ngay cả về đất đai không được cải thiện, mà cái có thể coi là lợi tức hay lợi nhuận của những chi phí cải thiện, trong đa số trường hợp, chỉ là số cộng thêm (bổ sung) vào địa tô ban đầu đó mà thôi;

 2) ngoài ra, sự cải thiện đó không phải bao giờ cũng được tiến hành bằng vốn của người sở hữu ruộng đất, mà đôi lúc bằng tư bản của những người thuê đất; tuy nhiên, khi đặt ra vấn đề ký lại khế ước thì người sở hữu ruộng đất thường đòi hỏi tăng địa tô lên như thế, tựa hồ như tất cả những sự cải thiện đó được thực hiện bằng vốn của bản thân anh ta;

 3) Hơn nữa, anh ta đôi lúc còn đòi địa tô ngay cả về cái mà nói chung hoàn toàn không thể do con người cải thiện" (Smith. T.I, p.300-301). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 120].

Để dùng làm thí dụ minh họa trường hợp sau này, Smith lấy cây ngón biển (Seekrapp, salicorne):

"một giống cây ở biển, – cây này sau khi bị đốt cháy, cho một thứ muối kiềm dùng để chế tạo pha lê, xà phòng v.v.. Cây này mọc ở Anh, chủ yếu là ở Scotland, ở những địa phương khác nhau, nhưng chỉ ở những núi đá nằm dưới mực nước thuỷ triều lên bị ngập dưới nước biển mỗi ngày hai lần, và do đó sản phẩm của chúng không gắn với việc đầu tư lao động của con người. Tuy nhiên người sở hữu khoảnh đất có thứ cây ấy vẫn đòi địa tô giống như về diện tích gieo trồng ngũ cốc. Biển ở gần quần đảo Sét-len có rất nhiều cá… Phần khá lớn dân cư trên các đảo ấy [II] sống bằng nghề đánh cá. Nhưng để có thể được hưởng hải sản thì phải có nhà trên đất kề biển. Ở đây, địa tô không tỷ lệ với cái mà người thuê đất có thể có được từ đất, mà tỷ lệ với cái mà anh ta có thể thu được từ cả đất và biển” (Smith. T.I, p.301-302). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 120-121].

"Có thể coi địa tô là sản phẩm của những lực lượng tự nhiên mà người sở hữu nhường cho người thuê mượn để sử dụng. Sản phẩm đó nhiều hay ít tùy thuộc vào quy mô của lực lượng tự nhiên tương ứng rộng hẹp đến đâu, nói cách khác, tuỳ thuộc vào độ phì tự nhiên hoặc nhân tạo. Đó là sản phẩm tự nhiên còn lại sau khi khấu trừ hoặc kết toán tất cả những cái gì có thể được coi là sản phẩm do con người làm ra (Smith. T.II, p.377-378). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 268].

"Như vậy, dĩ nhiên là địa tô, coi như giá cả phải trả về việc sử dụng đất đai, là giá cả độc quyền. Nó không mảy may tỷ lệ với cái mà người sở hữu ruộng đất đầu tư vào ruộng đất để cải thiện ruộng đất hoặc với cái người đó phải thu về để không bị thiệt, mà tương ứng với cái người thuê có thể cung cấp mà không bị thiệt" (Smith. T.I, p.302). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 121].

"Trong ba giai cấp cơ bản, giai cấp những người sở hữu ruộng đất là giai cấp mà thu nhập của nó không đòi hỏi phải hao phí lao động, cũng không đòi hỏi phải mất công lo lắng: thu nhập ấy chảy vào tay giai cấp đó có thể nói là một cách tự động, không do một dụng ý hoặc một kế hoạch nào của giai cấp đó" (Smith. T.II, p.161). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 194].

 Chúng ta đã nghe nói rằng lượng địa tô phụ thuộc vào mức độ màu mỡ của ruộng đất nhưng còn một nhân tố khác quyết định địa tô – đó là vị trí của khoảnh đất.

"Địa tô thay đổi tuỳ theo độ phì nhiêu của đất, dù sản phẩm của nó có như thế nào, và tuỳ thuộc vào vị trí của khoảnh đất, dù độ phì của nó như thế nào đi nữa" (Smith. T.I, p.306). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 122].

"Nếu những khoảnh đất, hầm mỏ hoặc vùng đánh cá có độ sinh lợi tự nhiên như nhau thì số lượng sản phẩm mà việc sử dụng chúng mang lại sẽ phụ thuộc vào quy mô của những tư bản mà người ta sẽ dùng để trồng trọt và khai thác chúng và vào cách thức ít (III) nhiều khéo léo trong việc vận dụng những tư bản ấy. Nếu tư bản bằng nhau và được vận dụng tốt như nhau thì sản phẩm sẽ tỷ lệ với năng suất tự nhiên của những đất đai, hầm mỏ hoặc vùng đánh cá ấy" ([Smith]. T.I. p.210). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 209-210].

 Những luận điểm ấy của Smith là quan trọng, vì với chi phí sản xuất như nhau và quy mô tư bản như nhau, thì những luận điểm ấy coi địa tô là phụ thuộc vào độ màu mỡ ít hay nhiều của đất đai. Điều đó chứng tỏ rõ ràng sự xuyên tạc các khái niệm của kinh tế – chính trị học là môn học biến độ phì nhiêu của đất đai thành một thuộc tính của người chủ đất. Song giờ đây chúng ta hãy xét địa tô dưới hình thức của nó trong các quan hệ hiện thực.

 Mức địa tô được quy định bởi cuộc đấu tranh giữa người thuê đất và người sở hữu ruộng đất. Bất cứ ở đâu trong kinh tế chính trị học, chúng ta đều thấy rằng sự đối lập thù địch giữa các lợi ích, sự đấu tranh, chiến tranh được thừa nhận là cơ sở của tổ chức xã hội.

 Vậy chúng ta hãy xem mối quan hệ giữa người sở hữu và người thuê ruộng đất như thế nào.

"Khi định những điều kiện của giao kèo thuê ruộng đất, người sở hữu ruộng đất hết sức tìm cách không để lại cho người thuê ruộng đất nhiều hơn cái cần thiết để bù lại tư bản chi phí vào giống má, vào việc trả công lao động, vào súc vật làm việc và những công cụ sản xuất khác, và để có được lợi nhuận thông thường đối với các trang trại ở vùng đó. Hoàn toàn rõ ràng là đó là phần nhỏ nhất mà người thuê ruộng đất có thể bằng lòng vì không bị thiệt, còn người sở hữu ruộng đất thì ít khi muốn để lại cho anh ta nhiều hơn. Ngoài phần đó ra thì toàn bộ số còn lại của sản phẩm hay của giá cả của sản phẩm, không kể số còn lại ấy nhiều ít như thế nào, người sở hữu tìm cách giữ lại cho mình coi đó là địa tô trả cho ruộng đất của mình – đó hiển nhiên là địa tô cao nhất mà người thuê ruộng đất có thể trả được trong trạng thái hiện có của ruộng đất [IV]. Số thừa ra đó luôn luôn có thể được coi là địa tô tự nhiên của ruộng đất, hoặc địa tô mà với mức ấy phần lớn các khoảnh đất được cho thuê một cách tự nhiên "(Smith. T.I, p.299-300). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 120].

 Say nói:

 "Những người sở hữu ruộng đất thực hiện một thứ độc quyền đối với người thuê ruộng đất. Số cầu về hàng hoá của họ, tức là ruộng đất, có thể tăng không ngừng; nhưng số lượng hàng hoá của họ chỉ mở rộng ra đến một mức nhất định… Giao kèo ký kết giữa người sở hữu ruộng đất và người thuê ruộng đất bao giờ cũng có lợi đến mức tối đa cho người thứ nhất… Ngoài cái lợi mà anh ta rút ra được từ bản chất của sự vật ra, anh ta còn có được những cái lợi từ địa vị của anh ta, từ tài sản, uy tín, danh giá lớn hơn của mình; nhưng chỉ riêng cái lợi thứ nhất cũng đã đủ để cho anh ta luôn luôn có khả năng một mình lợi dụng được tất cả mọi tình hình thuận lợi gắn với khoảnh đất ấy. Việc đào một con sông đào hoặc mở một con đường, sự tăng dân số và tăng sự giàu có của vùng đó bao giờ cũng nâng cao giá cho thuê… Cố nhiên, bản thân người thuê ruộng đất có thể cải thiện ruộng đất bằng tiền  của mình: nhưng mối lợi từ tư bản đầu tư vào việc cải thiện đất đai anh ta chỉ có thể rút ra trong thời gian thuê ruộng đất có hiệu lực thôi, còn khi thời hạn giao kèo đã hết thì toàn bộ lợi lộc chuyển sang tay người sở hữu ruộng đất; từ lúc ấy, người sở hữu ruộng đất rút ra những món tiền lời, mặc dù anh ta không chi phí gì cả, tiền cho thuê tăng lên một cách tương ứng" (Say, t.II, tr. [142]-143).

"Cho nên dĩ nhiên là địa tô, coi như giá cả phải trả để được sử dụng ruộng đất, là giá cả cao nhất mà người thuê ruộng đất có thể trả được trong trạng thái hiện có của khoảnh đất" (Smith. T.I, Tr.299). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 120].

"Do vậy, địa tô về việc sử dụng mặt đất trong đa số trường hợp bằng một phần ba tổng sản phẩm và thường là một lượng cố định, không phụ thuộc vào những biến động ngẫu nhiên [V] của thu hoạch (Smith. T.I, p.351). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 137]. "Ít khi địa tô ấy dưới một phần tư tổng sản phẩm" (ibid, t.II, p.378). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 268].

 Địa tô có thể trả không phải về tất cả mọi hàng hóa. Chẳng hạn như ở một địa phương, người ta không trả địa tô về đá.

"Thông thường nông sản được đem ra thị trường với số lượng mà giá cả thông thường đủ để bù lại tư bản bỏ ra để vận chuyển chúng và để thu được lợi nhuận thông thường của tư bản đó. Nếu giá cả thông thường vượt quá mức ấy thì số dôi ra đi vào địa tô. Còn nếu chỉ đủ để bù chi phí tư bản thôi thì tất nhiên có thể đưa hàng hoá đến thị trường, nhưng không còn gì để trả địa tô cho người sở hữu ruộng đất. Giá cả đó có cao hơn mức đủ để bù lại tất cả mọi chi phí sản xuất hay không, điều đó phụ thuộc vào số cầu" (Smith. T.I, p.302-303). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 121].

"Địa tô nằm trong cấu thành của giá cả hàng hoá hoàn toàn theo một cách khác với cách của tiền công và lợi nhuận về tư bản. Tỷ suất cao hoặc thấp của tiền công và lợi nhuận là nguyên nhân của giá cả cao hay thấp của hàng hoá, còn tỷ suất cao hay thấp của địa tô là kết quả của giá cả ấy" (Smith. T.I, Tr.303-[304]). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 121].

Trong số những sản phẩm luôn luôn đem lại địa tô có lương thực thực phẩm.

"Vì người ta, cũng như mọi động vật, đều sinh sôi nảy nở theo số tư liệu sinh hoạt của mình, nên bao giờ cũng có cầu nhiều hay ít về lương thực. Luôn luôn có thể dùng lương thực để mua một số lượng nhiều hay ít [VI] lao động và luôn luôn có những người sẵn sàng làm một việc nào đó để kiếm lương thực thực phẩm. Thật ra do chỗ đôi khi phải trả tiền công cao cho lao động, nên số lượng lao động có thể đổi bằng một số lượng nhất định lương thực thực phẩm, không phải bao giờ cũng bằng lao động có thể tồn tại nhờ vào lương thực, thực phẩm đó, nếu lương thực thực phẩm đó được chi tiêu một cách tiết kiệm nhất. Nhưng với lương thực thực phẩm luôn luôn có thể dùng để mua một số lượng lao động đủ để nuôi sống loại lao động ấy theo mức sống thông thường của nó ở địa phương ấy. Hầu như trong mọi tình hình có thể có, ruộng đất sản xuất nhiều lương thực thực phẩm hơn số cần thiết để nuôi sống toàn bộ lao động tham gia vào việc sản xuất và đưa lương thực đó ra thị trường. Số lương thực thực phẩm thừa ra đó bao giờ cũng thừa đủ để bù lại tư bản sử dụng lao động đó, mà còn có được lợi nhuận. Như vậy, bao giờ cũng còn lại một số cái gì để trả địa tô cho người sở hữu ruộng đất" (Smith. T.I, Tr.305-306). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 122].

 Không những lương thực thực phẩm là nguồn gốc đầu tiên của địa tô, mà hơn nữa, sau đó nếu những sản phẩm khác của ruộng đất cũng đem lại địa tô thì người thu địa tô sở dĩ có được phần giá trị cộng thêm đó vẫn lại do sự tăng thêm sức sản xuất của lao động sản xuất ra lương thực thực phẩm, sự tăng lên đó là kết quả của sự tiến bộ trong việc canh tác và cải thiện đất đai" (Smith. T.I, p.345). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 132]. "Như vậy lương thực thực phẩm luôn luôn mang lại khả năng trả địa tô" (t.I. tr.337). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 132]. "Số nhân khẩu của một nước không tỷ lệ với số lượng người mà nước đó có thể cung cấp áo quần và nhà ở, mà tỷ lệ với số lượng người mà nước đó có thể nuôi sống bằng sản phẩm của mình" (Smith. T.I, Tr.342). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 134].

"Hai nhu cầu quan trọng nhất của con người sau ăn uống là nhu cầu về áo quần và nhà ở (và sưởi ấm). Trong đa số trường hợp, những vật phẩm dùng để thoả mãn những nhu cầu đó đem lại địa tô, nhưng không phải bao giờ cũng nhất thiết phải như thế" (ibid, t.I, p. [337]-338). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 133]. [VI].

[VIII] Bây giờ, chúng ta hãy xem người sở hữu ruộng đất khai thác mọi mối  lợi của xã hội như thế nào.

1) Địa tô tăng lên cùng với dân số[26] (Smith. T.I, p.335). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 132].

2) Chúng ta đã nghe Say nói rằng, địa tô tăng lên như thế nào cùng với việc mở mang đường sắt v.v., với việc cải tiến, tăng độ an toàn của các phương tiện giao thông và sự tăng thêm phương tiện giao thông.

3) "Bất cứ sự cải thiện nào trong điều kiện sinh sống của xã hội cũng đều có xu hướng trực tiếp hoặc gián tiếp nâng cao địa tô, tăng thêm sự giàu có thực tế của người sở hữu ruộng đất, nghĩa là tăng thêm khả năng của anh ta trong việc mua lao động của người khác hoặc sản phẩm lao động của người khác… Sự tiến bộ trong việc cải thiện và canh tác đất đai trực tiếp dẫn tới chỗ đó. Sản phẩm tăng thêm thì tất nhiên là phần của người sở hữu ruộng đất trong sản phẩm ấy cũng tăng lên. Sự tăng lên của giá cả thực tế của những loại nguyên liệu ấy, thí dụ sự tăng lên của giá cả súc vật, cũng dẫn trực tiếp tới chỗ tăng thêm địa tô, hơn nữa tăng theo một tỷ lệ còn lớn hơn. Không chỉ giá trị thực tế của phần của người sở hữu ruộng đất và do đó quyền lực thực tế của anh ta đối với lao động của người khác đều tăng lên mà thôi, – cùng với sự tăng lên của giá trị thực tế của sản phẩm, cả lượng tương đối của phần ấy trong tổng sản phẩm cũng tất yếu tăng lên. Sau khi giá cả thực tế của sản phẩm đó tăng lên, việc sản xuất nó không đòi hỏi nhiều lao động hơn trước kia, vì thế để bù lại tư bản đã sử dụng cộng với lợi nhuận thông thường của nó giờ đây cần một tỷ lệ sản phẩm nhỏ hơn trước. Như vậy, phần còn lại của sản phẩm, cái phần thuộc về người sở hữu ruộng đất sẽ nhiều hơn trước kia so với tổng sản phẩm" (Smith.T.II, p.157-159). [Bản dịch tiếng Nga, tr.193].

[IX] Sở dĩ cầu về nguyên liệu tăng thêm và do đó giá trị của nguyên liệu tăng thêm, một phần có thể là do số dân và nhu cầu của dân cư tăng thêm. Nhưng mỗi phát minh mới, mỗi việc sử dụng mới những nguyên liệu mà công nghiệp trước kia chưa sử dụng hoặc ít sử dụng, đều làm tăng thêm địa tô. Chẳng hạn như cùng với sự xuất hiện của đường sắt, tàu thuỷ v.v., địa tô mỏ than đá tăng lên một cách không tưởng tượng được.

 Ngoài cái lợi mà người sở hữu ruộng đất rút được từ công nghiệp ra ấy, từ các phát minh, từ lao động, bây giờ chúng ta sẽ thấy một cái lợi khác nữa. 

4) "Những cách nâng cao sức sản xuất của lao động trực tiếp dẫn đến chỗ hạ thấp giá cả thực tế của những sản phẩm công nghiệp thì đều gián tiếp dẫn tới chỗ nâng cao địa tô thực tế. Người sở hữu ruộng đất đem lại cái phần sản phẩm thô không tiêu dùng cho cá nhân hắn, hoặc giá cả của phần đó, để đổi lấy sản phẩm công nghiệp. Tất cả những cái làm giảm giá cả thực tế của sản phẩm của nông nghiệp. Từ nay cùng một số lượng sản phẩm thô sẽ tương ứng với một số lượng lớn hơn những sản phẩm công nghiệp, và người sở hữu ruộng đất có khả năng mua được nhiều vật dụng sinh hoạt, đồ trang trí và xa xỉ phẩm hơn" (Smith. T.II, p.159). [Bản dịch tiếng Nga, tr.193].

 Nhưng nếu do chỗ người sở hữu ruộng đất khai thác được hết mọi cái lợi của xã hội mà, Smith [X] kết luận (t.II, p.161)[27]. [Bản dịch tiếng Nga, tr. 194], rằng lợi ích của người sở hữu ruộng đất bao giờ cũng nhất trí với lợi ích của xã hội thì đó là một điều vô lý. Theo kinh tế chính trị học thì dưới sự thống trị của chế độ tư hữu, sự quan tâm của một cá nhân đến xã hội hoàn toàn ngược với sự quan tâm của xã hội đến người đó, cũng giống như sự quan tâm của người cho vay nặng lãi đến kẻ lãng phí thì hoàn toàn không nhất trí với lợi ích của người lãng phí.

 Chúng tôi chỉ nhắc qua về lòng khát khao của người sở hữu ruộng đất muốn nắm độc quyền chống lại sở hữu ruộng đất của nước ngoài; từ đó mà có đạo luật về lúa mì chẳng hạn. Cũng vậy, ở đây chúng tôi sẽ không nói đến chế độ nông nô thời trung cổ, chế độ nô lệ ở các thuộc địa, sự cùng khổ của công nhân nông nghiệp ở Anh. Chúng tôi sẽ theo những nguyên lý của bản thân kinh tế chính trị học.

1) Người sở hữu ruộng đất quan tâm đến phúc lợi của xã hội, các nguyên lý của kinh tế chính trị học nói như thế; anh ta quan tâm đến sự tăng thêm nhân khẩu, đến sự tăng thêm sản phẩm công nghiệp, đến sự tăng thêm nhu cầu của xã hội, nói tóm lại, đến sự tăng thêm sự giàu có của xã hội, và như chúng ta đã thấy trên kia, sự tăng thêm đó đi đôi với sự tăng thêm cảnh nghèo khổ và cảnh nô lệ. Sự liên quan giữa tiền thuê nhà ngày càng tăng và sự tăng thêm cảnh nghèo khổ là một thí dụ về sự quan tâm của người sở hữu ruộng đất đến xã hội, vì với sự tăng lên của tiền cho thuê nhà thì địa tô – lợi tức về mảnh đất trên đó nhà ở được xây dựng – tăng lên.

2) Theo chính các nhà kinh tế học thì lợi ích của người sở hữu ruộng đất là cái đối lập thù địch với lợi ích của người thuê ruộng đất, nghĩa là của một bộ phận khá lớn của xã hội.

[XI] 3) Vì người sở hữu ruộng đất có thể đòi hỏi người thuê ruộng đất phải trả càng nhiều địa tô khi người thuê ruộng đất trả càng ít tiền công, và vì người thuê ruộng đất càng hạ thấp tiền công xuống khi người sở hữu ruộng đất đòi hỏi càng nhiều địa tô, cho nên lợi ích của người sở hữu ruộng đất cũng đối lập với lợi ích của công nhân nông nghiệp, giống như lợi ích của chủ xí nghiệp công nghiệp đối lập với lợi ích của những công nhân của anh ta. Lợi ích của người sở hữu ruộng đất cũng làm cho tiền công hạ xuống đến mức thấp nhất.

4) Vì sự hạ thấp thực tế của giá cả sản phẩm công nghiệp làm cho địa tô tăng lên, nên người sở hữu ruộng đất có lợi ích trực tiếp khi tiền công của công nhân công nghiệp hạ xuống khi có sự cạnh tranh giữa các nhà tư bản, khi có tình trạng sản xuất thừa, có mọi tai họa mà sự phát triển công nghiệp đẻ ra.

 5) Vậy, nếu lợi ích của người sở hữu ruộng đất hoàn toàn không nhất trí với lợi ích của xã hội và đối lập thù địch với lợi ích của những người thuê ruộng đất, của công nhân nông nghiệp, của công nhân công nghiệp và của những nhà tư bản thì mặt khác, lợi ích của người sở hữu ruộng đất này cũng hoàn toàn không nhất trí với lợi ích của người sở hữu ruộng đất khác – vì có sự cạnh tranh mà giờ đây chúng ta cũng sẽ xem xét.

Nói chung, quan hệ giữa sở hữu ruộng đất lớn và sở hữu ruộng đất nhỏ cũng giống quan hệ giữa tư bản lớn và tư bản nhỏ. Nhưng thêm vào đó còn có những tình hình đặc biệt, chúng nhất thiết dẫn tới sự tích luỹ sở hữu ruộng đất lớn và việc sở hữu ruộng đất lớn thôn tính sở hữu ruộng đất nhỏ.

[XII] 1) Không ở đâu số lượng tương đối của công nhân và công cụ lao động giảm mạnh cùng với sự tăng thêm quy mô kinh doanh như trong nông nghiệp. Cũng giống như không ở đâu khả năng khai thác toàn diện, sự tiết kiệm do giảm chi phí sản xuất và sự phân công lao động một cách khéo léo tăng lên – cùng với sự tăng thêm quy mô kinh doanh – mạnh như trong nông nghiệp. Dù khoảnh đất có nhỏ đến đâu, số lượng công cụ lao động cần thiết để canh tác nó như cày, bừa v.v., cũng vấp phải một giới hạn nhất định, không thể tiếp tục giảm hơn nữa, trong khi đó quy mô chiếm hữu ruộng đất có thể xuống thấp hơn giới hạn ấy rất nhiều.

2) Kẻ sở hữu nhiều ruộng đất chiếm hữu khoản lợi tức của số tư bản mà người thuê ruộng đã đầu tư vào việc cải thiện đất đai. Kẻ sở hữu ít ruộng đất buộc phải bỏ tư bản riêng của mình vào việc đó. Do vậy đối với anh ta, toàn bộ lợi nhuận đó bị mất đi.

3) Mỗi sự cải thiện xã hội đều có lợi cho người sở hữu nhiều ruộng đất, nhưng lại có hại cho người sở hữu ít ruộng đất, vì bao giờ nó cũng đòi hỏi người sở hữu ít ruộng đất phải có một số lượng tiền mặt ngày càng lớn.

4) còn phải xét hai quy luật quan trọng của sự cạnh tranh ấy:

 "Địa tô của những khoảnh ruộng đất cày cấy để sản xuất ra lương thực thực phẩm điều tiết địa tô của phần lớn những đất đai canh tác khác" (Smith. T.I, p.331). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 130].

Những tư liệu sinh hoạt như gia súc v.v., xét cho cùng, chỉ có chế độ sở hữu nhiều ruộng đất mới có thể sản xuất được. Do đó, chế độ sở hữu nhiều ruộng đất điều tiết địa tô của những ruộng đất khác và có thể hạ địa tô ấy xuống mức thấp nhất.

Trong những trường hợp đó, quan hệ của người sở hữu ít ruộng đất tự mình lao động trên khoảnh đất của mình đối với người sở hữu nhiều ruộng đất, cũng giống như quan hệ của người thợ thủ công có dụng cụ riêng của mình đối với chủ xưởng. Người sở hữu ít ruộng đất trở thành công cụ lao động đơn thuần. [XVI] Người sở hữu nhỏ không còn có chút địa tô nào nữa, nhiều lắm thì anh ta còn lại tiền lời của tư bản của anh ta và tiền công của anh ta mà thôi, vì do cạnh tranh mà địa tô có thể giảm xuống đến mức nó chỉ là tiền lời của tư bản mà bản thân người sở hữu ruộng đất không bỏ ra.

a – Ngoài ra, chúng ta đã biết rằng khi ruộng đất, hầm mỏ hay vùng cá mà tốt ngang nhau và được khai thác khéo léo như nhau thì sản phẩm tỷ lệ với quy mô của tư bản. Do đó chế độ sở hữu nhiều ruộng đất thắng thế. Cũng vậy, với những 

tư bản ngang nhau thì thu nhập tỷ lệ với độ phì của ruộng đất. Cho nên với những tư bản ngang nhau, thì người sở hữu những khoảnh ruộng đất màu mỡ hơn là người thắng.

b – "Có thể nói một mỏ nào đó nói chung là giàu quặng hay nghèo quặng tuỳ theo chỗ một số lượng lao động nhất định có thể khai thác được của mỏ ấy một số lượng khoáng sản nhiều hơn hay ít hơn số lượng khoáng sản mà cùng một số lượng lao động như vậy có thể khai thác được của đa số mỏ khác cùng loại" (Smith. T.I, p.345-346). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 135].

 "Giá cả sản phẩm của những mỏ phong phú nhất điều tiết giá cả than đá cho tất cả những mỏ lân cận khác. Người sở hữu ruộng đất và người kinh doanh, nếu họ bán sản phẩm theo giá cả thấp hơn giá của những người láng giềng của họ thì người này cho rằng địa tô của người đó sẽ cao hơn, người kia cho rằng lợi nhuận của anh ta sẽ tăng. Lúc đó, những người láng giềng cũng buộc phải bán sản phẩm của mình theo cùng giá cả ấy, mặc dù họ ít có khả năng làm như vậy và mặc dù giá cả ấy tiếp tục hạ xuống và đôi khi còn làm cho họ mất sạch địa tô và lợi nhuận. Do đó một số hầm mỏ hoàn toàn bị bỏ, không được khai thác, một số mỏ khác đã không đem lại một địa tô nào và chỉ có thể tiếp tục khai thác được bởi chính người sở hữu chúng" (Smith. T.I, p.350). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 137].

 "Sau khi phát hiện ra những mỏ ở Pê-ru, phần lớn những mỏ bạc ở châu Âu bị bỏ, không khai thác nữa… Tình hình như thế cũng xảy ra với những mỏ ở Cu-ba và Xan-Dô-min-gô và thậm chí với cả những mỏ cũ ở Pê-ru, sau khi phát hiện ra mỏ ở Pô-tô-xi" (t.I, p.353). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 138).

Tất cả những điều Smith nói ở đây về các mỏ cũng đều có thể vận dụng ít hay nhiều đối với sở hữu ruộng đất nói chung.

c – "Cần chú ý rằng bất cứ lúc nào, giá cả thị trường thông thường của ruộng đất cũng phụ thuộc vào tỷ suất thông thường của lợi tức trên thị trường… Nếu địa tô hạ xuống thấp hơn đáng kể so với lợi tức của tiền tệ thì không ai muốn mua đất đai nữa, điều đó sẽ khiến cho giá cả thị trường của ruộng đất nhanh chóng hạ xuống. Trái lại, nếu những cái lợi của địa tô sẽ bù lại quá số chênh lệch bình thường giữa mức lợi tức tiền tệ và mức địa tô thì mọi người sẽ đổ xô đi mua ruộng đất, điều đó lại sẽ nhanh chóng khôi phục giá cả thị trường thông thường của nó lên" ([Smith].T.II.p.[367]-368). [Bản dịch tiếng Nga, tr. 263-264].

Qua tương quan đó giữa địa tô và lợi tức tiền tệ ta thấy rằng địa tô ắt phải ngày càng hạ xuống, khiến cho rút cục chỉ có những người giàu nhất mới có thể sống bằng địa tô được. Vậy là có sự cạnh tranh ngày càng lớn giữa những người sở hữu ruộng đất không cho thuê ruộng đất của mình. Một bộ phận những người sở hữu ruộng đất ấy bị phá sản. Sở hữu ruộng đất lớn lại được tập trung thêm một mức nữa.

[XVII] Ngoài ra sự cạnh tranh ấy còn đưa đến kết quả là một bộ phận khá lớn sở hữu ruộng đất rơi vào tay những nhà tư bản và do đó những nhà tư bản cũng đồng thời trở thành những người sở hữu ruộng đất, cũng giống hệt như nói chung những người sở hữu ít ruộng đất hơn giờ đây cũng chỉ còn tồn tại như là những nhà tư bản thôi. Cũng thế, một bộ phận những người sở hữu nhiều ruộng đất đồng thời cũng trở thành những nhà công nghiệp.

Như vậy, kết quả cuối cùng là sự khác nhau giữa nhà tư bản và người sở hữu ruộng đất bị xoá bỏ, thành thử nói chung, chỉ còn lại hai giai cấp trong dân cư: giai cấp công nhân và giai cấp những nhà tư bản. Việc đưa sở hữu ruộng đất vào vòng quay thương nghiệp như vậy, việc biến sở hữu ruộng đất thành hàng hoá như vậy là sự sụp đổ cuối cùng của giai cấp quý tộc cũ và sự xác lập hoàn toàn của giai cấp quý tộc tiền tệ.

1) Chúng ta không đồng tình với những giọt nước mắt thương cảm của phái lãng mạn về tình hình đó[28]. Họ thường xuyên lẫn lộn sự vô sỉ trong các mánh khóe buôn bán[29] ruộng đất với hậu quả hoàn toàn hợp lý, tất yếu và đáng mong muốn – trong giới hạn của chế độ tư hữu – nằm trong các mánh khóe buôn bán với sở hữu tư nhân về ruộng đất. Trước hết, xét về thực chất thì sở hữu ruộng đất phong kiến đã là kết quả của các mánh khóe buôn bán với ruộng đất, là sự chuyển hóa nó thành ruộng đất đã tha hoá khỏi con người và do đó đối lập với con người trong hình ảnh của một số ít lãnh chúa lớn này nọ.

Chế độ chiếm hữu phong kiến đã bao hàm sự thống trị của ruộng đất đối với con người, với tư cách là quyền lực của một lực lượng xa lạ nào đó. Người nông nô là vật phụ thuộc của ruộng đất. Giống hệt như thế, người trưởng nam được thừa kế ruộng đất, người con trai cả là thuộc về ruộng đất. Chính ruộng đất đã thừa kế người trưởng nam. Nói chung, sự thống trị của chế độ tư hữu bắt đầu từ chế độ chiếm hữu ruộng đất; chế độ chiếm hữu ruộng đất là cơ sở của chế độ tư hữu. Nhưng dưới chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, lãnh chúa ít ra trông bề ngoài có vẻ là một ông vua sở hữu ruộng đất. Đồng thời ở đấy còn có cái vẻ một quan hệ thân tình hơn giữa người sở hữu và ruộng đất so với mối quan hệ của cải vật chất đơn thuần. Cùng với chủ của nó, khoảnh đất được cá nhân hoá, mang tước vị của chủ nó, là nam tước hay bá tước cùng với chủ nó, có những đặc quyền của chủ nó, quyền tài phán của chủ nó, địa vị chính trị của chủ nó, v.v.. Khoảnh đất hình như là thân thể vô cơ của chủ nó. Cho nên tục ngữ có câu: nulle terre sans maftre 11* – không có đất nào không có chủ.* (câu này biểu hiện sự khăng khít giữa tầm lớn của người chủ với sở hữu ruộng đất. Cũng vậy, ở đây sự thống trị của chế độ sở hữu ruộng đất không trực tiếp biểu hiện ra là sự thống trị của tư bản đơn thuần. Nói đúng ra, những kẻ thuộc về sở hữu ruộng đất coi sở hữu đó như là Tổ quốc của mình. Đó là chủ nghĩa dân tộc có tính chất hết sức hạn chế.)

[XVIII] Cũng vậy, sở hữu ruộng đất phong kiến lấy tên nó đặt tên cho chủ nó, giống như một vương quốc lấy tên mình đặt tên cho ông vua của mình. Gia phả của anh ta, lịch sử dòng họ của anh ta v.v. – tất cả những cái đó cá thể hoá sở hữu ruộng đất của anh ta, chính thức biến sở hữu đó thành gia đình anh ta, nhân cách hoá nó. Cũng vậy, những người canh tác ruộng đất của anh ta không có địa vị của người làm thuê công nhật, mà chính họ, với tư cách là nông nô, một phần là sở hữu của anh ta, còn một phần có quan hệ trung thuận, quan hệ thần dân và quan hệ nghĩa vụ xác định đối với anh ta. Do đó lập trường của người chiếm hữu ruộng đất đối với họ là lập trường chính trị trực tiếp và đồng thời có một khía cạnh tình cảm nào đó. Tập quán, tính cách v.v. thay đổi từ khoảnh đất này đến khoảnh đất khác; và tựa hồ như gắn liền với mảnh đất thành một chỉnh thể, nhưng về sau cái gắn con người với khoảnh đất chỉ là túi tiền của con người, chứ không phải là tính cách của con người, cá tính của con người. Và cuối cùng, người chiếm hữu ruộng đất phong kiến không tìm cách rút từ sở hữu ruộng đất của mình ra những mối lợi thật hết sức lớn. Trái lại, anh ta tiêu dùng tất cả cái gì có ở đấy, và yên tâm để cho những người nông nô và những người thuê ruộng đất lo kiếm những tư liệu mới. Quan hệ của tầng lớp quý tộc với sở hữu ruộng đất khoác lên người chủ của nó một vòng hào quang lãng mạn nào đó là như vậy.

Điều cần thiết là cái vẻ ngoài ấy phải được xoá bỏ, là sở hữu ruộng đất, gốc rễ ấy của chế độ tư hữu, phải được hoàn toàn lôi cuốn vào sự vận động của sở hữu tư nhân và trở thành hàng hoá; là bá quyền của người sở hữu phải biểu hiện như bá quyền thuần tuý của chế độ tư hữu, của tư bản, một bá quyền đã trút bỏ hết mọi màu sắc chính trị; là mối quan hệ giữa người sở hữu và người lao động phải trở thành quan hệ kinh tế giữa người bóc lột và người bị bóc lột; là mọi quan hệ nhân thân giữa người sở hữu và sở hữu của anh ta phải chấm dứt và sở hữu ấy phải trở thành chỉ là của cải vật chất cụ thể; là hôn nhân theo tính toán phải thay cho hôn nhân danh dự với ruộng đất và ruộng đất cũng như con người phải tụt xuống mức một giá trị buôn bán. Điều cần thiết là gốc rễ của sở hữu ruộng đất, tức là tính hám lợi bẩn thỉu, cũng phải xuất hiện dưới hình thức vô sỉ của nó. Điều cần thiết là độc quyền bất động phải chuyển thành độc quyền động và bất an thành cạnh tranh; là tình trạng ngồi không mà hưởng thụ kết quả mồ hôi nước mắt của người khác, phải chuyển thành sự bận rộn trong việc buôn bán những kết quả ấy. Và cuối cùng, điều cần thiết là trong quá trình cạnh tranh đó, sở hữu ruộng đất dưới hình thức tư bản, phải tỏ rõ sự thống trị của nó đối với giai cấp công nhân cũng như đối với bản thân những người sở hữu bị phá sản hoặc phát tài theo các quy luật vận động của tư bản. Thế là câu phương ngôn của thời đại mới l'argent n'a pas de maitre11* – tiền bạc không có chủ.* biểu hiện rõ rệt sự thống trị của vật chất chết đối với con người, thay cho câu phương ngôn thời trung cổ: nulle terre sans seigneur 22* – không có đất nào không có chủ.*.

[XIX] 2) Còn sự tranh luận về sự có thể phân chia hay không thể phân chia của sở hữu ruộng đất thì phải chú ý những điều sau đây:

Sự phân chia của sở hữu ruộng đất là phủ định sự độc quyền lớn về sở hữu ruộng đất; sự phân chia đó xoá bỏ sự độc quyền ấy, nhưng chỉ xoá bỏ bằng cách làm cho độc quyền ấy có tính chất phổ biến. Nó không xoá bỏ cơ sở của độc quyền đó, tức chế độ tư hữu. Nó xâm phạm sự tồn tại của độc quyền, chứ không xâm phạm bản chất của độc quyền. Do đó sự phân chia của sở hữu ruộng đất phải chịu sự chi phối của các quy luật của chế độ tư hữu. Vấn đề là sự phân chia của sở hữu ruộng đất phù hợp với sự vận động của cạnh tranh trong lĩnh vực công nghiệp. Ngoài những bất lợi kinh tế do sự phân chia công cụ và do sự phân tán của lao động (mà ta cần phải phân biệt với sự phân công lao động: ở đây công việc không phân phối cho nhiều người, mà cùng một lao động được mỗi người thực hiện một cách cô lập, nghĩa là có sự lặp đi lặp lại nhiều lần cùng một công việc), sự phân chia này, cũng như sự cạnh tranh đã nói trên, không khỏi chuyển thành sự tích luỹ và sự tích tụ.

Cho nên ở đâu có sự phân chia sở hữu ruộng đất thì ở đó chẳng còn gì khác ngoài việc hoặc là quay trở về độc quyền dưới hình thức còn ghê tởm hơn, hoặc phủ định, xóa bỏ bản thân việc phân chia sở hữu ruộng đất. Nhưng đó không phải là quay trở về chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến nữa, mà là xoá bỏ sở hữu tư nhân về ruộng đất nói chung. Xóa bỏ lần thứ nhất sự độc quyền bao giờ cũng có nghĩa là làm cho độc quyền có tính chất phổ biến, là mở rộng phạm vi tồn tại của nó. Xoá bỏ sự độc quyền đã đạt tới hình thức tồn tại rộng lớn nhất và bao trùm của nó có nghĩa là tiêu diệt hoàn toàn nó. Về mặt kinh tế thì sự liên hợp đem áp dụng vào ruộng đất sẽ có được những cái lợi của chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất và lần đầu tiên thực hiện được xu hướng nguyên thuỷ của sự phân chia – tức bình đẳng, đồng thời nó cũng khôi phục lại quan hệ tình cảm của con người đối với ruộng đất, bằng con đường hợp lý chứ không phải thông qua chế độ nông nô, chế độ địa chủ quý tộc và sự thần bí vô lý về quyền sở hữu; ruộng đất không còn là đối tượng của sự buôn bán và nhờ lao động tự do và sự hưởng thụ tự do, nó lại trở thành tài sản cá nhân chân chính của con người. Cái lợi lớn của sự phân chia sở hữu ruộng đất là ở chỗ ở đây, quần chúng không còn có thể chịu sống trong cảnh nô dịch phong kiến nữa, sẽ chết vì sở hữu một cách khác với cách chết trong công nghiệp.

Về chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất thì những kẻ bảo vệ nó bao giờ cũng đồng nhất một cách ngụy biện những cái lợi kinh tế của nông nghiệp quy mô lớn với sở hữu ruộng đất lớn, như thế không thấy rằng chính chỉ khi sự xoá bỏ sở hữu [ấy], [XX] những cái lợi đó, một mặt, mới có được địa bàn lớn nhất, mặt khác, mới lần đầu tiên tỏ ra có ích cho xã hội. Cũng vậy, những kẻ bảo vệ chế độ sở hữu ruộng đất lớn ấy đả kích tinh thần con buôn của chế độ chiếm hữu ít ruộng đất, làm như thể chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất, ngay cả dưới hình thức phong kiến của nó, cũng không bao hàm một cách tiềm tàng tinh thần con buôn. Đấy là không nói đến hình thức hiện đại của sở hữu ruộng đất ở nước Anh, hình thức trong đó tính chất phong kiến của người chiếm hữu ruộng đất quyện với tinh thần con buôn và tài kinh doanh công nghiệp của người thuê đất.

Cũng giống như sở hữu ruộng đất lớn đến lượt mình có thể chê trách sự phân chia sở hữu ruộng đất là độc quyền, vì sự phân chia đó dựa trên sự độc quyền sở hữu tư nhân, sự phân chia sở hữu ruộng đất cũng có thể chê trách trở lại sở hữu ruộng đất lớn về sự phân chia, vì cả ở đây nữa, sự phân chia cũng thống trị, chỉ có điều là dưới hình thức bất động, cứng nhắc. Nói chung, chế độ tư hữu dựa trên sự phân chia. Vả lại cũng giống như sự phân chia sở hữu ruộng đất lại dẫn tới chế độ chiếm hữu nhiều ruộng đất kiểu tư bản chủ nghĩa, sở hữu ruộng đất phong kiến, dù nó có xoay xở đi nữa, cũng không khỏi phải bị phân chia hay ít ra là rơi vào tay các nhà tư bản.

Điều đó xảy ra vì sở hữu ruộng đất lớn, như chúng ta thấy ở Anh, đẩy tuyệt đại đa số dân cư vào trong tay công nghiệp và bắt những công nhân của chính nó phải chịu cảnh nghèo khổ hoàn toàn. Như vậy, nó đẻ ra và tăng thêm sức mạnh của kẻ thù của nó, tức tư bản, công nghiệp, do nó ném những người nghèo khổ và toàn bộ hoạt động trong nước sang phía tư bản. Sở hữu ruộng đất lớn làm cho đa số dân cư trong nước trở thành những người làm công nghiệp và do đó biến họ thành đối thủ của sở hữu ruộng đất lớn. Nếu công nghiệp đạt được một sức mạnh lớn, như hiện nay chúng ta thấy ở Anh, thì nó từng bước tước mất của sở hữu ruộng đất lớn sự độc quyền của nó đối với những nước ngoài và bắt sở hữu ruộng đất lớn đó phải cạnh tranh với những kẻ sở hữu ruộng đất ở ngoài nước. Vấn đề là dưới sự thống trị của công nghiệp, sở hữu ruộng đất chỉ có thể bảo đảm sự vĩ đại phong kiến của mình bằng sự độc quyền đối với các nước ngoài, để bằng cách đó bảo vệ mình tránh những quy luật chung của thương nghiệp mâu thuẫn với bản chất phong kiến của nó. Một khi bị kéo vào quỹ đạo cạnh tranh, sở hữu ruộng đất tuân theo các quy luật của cạnh tranh như mọi hàng hoá khác bị cạnh tranh chi phối. Nó mất sự ổn định với mức độ y như vậy, lúc giảm xuống, lúc tăng lên, chuyển từ tay người này sang tay người khác, và không pháp luật nào có thể giữ nó lại trong một số ít bàn tay đã được định trước [XXI]. Kết quả trực tiếp là nó bị phân tán vào tay nhiều người chiếm hữu và vô luận thế nào, nó cũng phải phục tùng quyền lực của tư bản công nghiệp.

Và cuối cùng, sở hữu ruộng đất lớn – được duy trì bằng bạo lực và làm nảy sinh ra một công nghiệp hùng mạnh ở bên cạnh mình – dẫn tới khủng hoảng còn nhanh hơn sự phân chia sở hữu ruộng đất mà với nó, xét về sức mạnh, công nghiệp vẫn ở vào địa vị thứ hai.

Sở hữu ruộng đất lớn, như chúng ta thấy ở Anh, đã mất tính chất phong kiến của nó và đã mang tính chất kinh doanh vì nó muốn làm ra thật nhiều tiền. Nó đem lại cho người sở hữu một địa tô cao nhất, và đem lại cho người thuê ruộng đất một lợi nhuận lớn nhất của tư bản của người đó. Do đó tiền công của công nhân nông nghiệp đã bị đưa đến mức tối thiểu, và trong phạm vi chế độ sở hữu ruộng đất, giai cấp những người thuê ruộng đất đã đại biểu cho sức mạnh của công nghiệp và của tư bản. Do cạnh tranh với nước ngoài, nên trong đa số trường hợp, địa tô không còn là thu nhập mà tự nó có thể đảm bảo đủ cho người chiếm hữu ruộng đất. Một bộ phận khá lớn những người sở hữu ruộng đất buộc phải giữ địa vị người thuê ruộng đất, còn những người này thì một phần rơi vào hàng ngũ giai cấp vô sản. Mặt khác, nhiều người thuê ruộng đất nắm được sở hữu ruộng đất, vì những người sở hữu lớn yên trí nhận thu nhập, phần lớn sa vào tình trạng lãng phí và thường không thích hợp với việc lãnh đạo nền nông nghiệp quy mô lớn: họ thường không có tư bản và cũng không có năng lực khai thác ruộng đất. Như vậy, một bộ phận trong bọn họ cũng bị phá sản hoàn toàn. Và cuối cùng, tiền công đã bị rút xuống mức thấp nhất, lại còn phải hạ thấp thêm nữa để có thể đương đầu nổi với cuộc cạnh tranh mới. Và điều đó tất nhiên dẫn tới cách mạng.

Sở hữu ruộng đất phải phát triển bằng cách này lẫn cách kia, để ở trường hợp này lẫn ở trường hợp kia, đều đi tới sự diệt vong không tránh khỏi, cũng giống như công nghiệp phải đi tới phá sản dưới hình thức độc quyền và dưới hình thức cạnh tranh để học cách tin tưởng vào con người. [XXI]

 


*Chú thích:

[25]  Có ý nói đến lập luận của Smith về những nhân tố quyết định sự thành công của những người làm công và lượng tiền công. Trong số các nhân tố này có "khả năng hoặc không có khả năng thành công". Đặc biệt, Smith nói: "Hãy cho con bạn đến học việc với người thợ đóng giày, bạn có thể tin chắc rằng nó học được cách khâu giày, còn nếu bạn gửi con bạn đi học trường luật, thì có thể đánh cuộc, ít ra là, hai mươi lấy một rằng con bạn sẽ không đạt được những thành công cho phép nó sống bằng chính cái nghề này. Trong trò chơi xổ số hoàn toàn chính đáng thì những số trúng thưởng phải được tất cả những gì mà các số không trúng bị mất. Trong cái nghề mà cứ một người thành đạt có hai mươi người thất bại thì một người ấy phải được tất cả những gì mà hai mươi người thất bại kia lẽ ra đã nhận được". – 106.

[26]   Ở chỗ này Mác đưa ra luận điểm của A.Smith, mà theo đó thì số cầu ngày càng tăng của cư dân về một sản phẩm thông dụng nào đó, ví dụ như khoai tây, sự tăng số người tiêu dùng thứ sản phẩm này, ngay cả khi nó có được ở vùng thổ nhưỡng trung bình, thì cũng sẽ tạo ra sự dư thừa lớn hơn về giá trị trong tay chủ trang trại sau khi đã bù lại giá trị của những chi phí về vốn và chi phí về tiền công lao động. Đến lượt mình, phần dư thừa lớn này sẽ dành cho người sở hữu ruộng đất. Từ đó có kết luận: số lượng cư dân tăng lên thì mức địa tô cũng tăng lên. – 112.

[27]  Ở đây Mác nêu kết luận, bắt nguồn từ bối cảnh chung các lập luận của những đại diện của cái gọi là kinh tế chính trị học hiện đại, trước hết là của Đ.Ri-các-đô, về mối quan hệ giũa các chủ sở hữu ruộng đất, không làm việc mà vẫn thu được địa tô – do quyền sở hữu ruộng đất với tính cách là tư liệu sản xuất cơ bản – với những người sản xuất ra nông phẩm – những người thuê ruộng, đang chiếm phần đáng kể cư dân nước Anh vào thời kỳ công trường thủ công của chủ nghĩa tư bản và những giai đoạn đầu của sản xuất công xưởng. Về A.Smith thì ông đã đi theo phái trọng nông, chứng minh sự đồng nhất không có thật giữa lợi ích của chủ sở hữu ruộng đất với xã 

hội. – 113, 150.

[28]   Nhận xét này, chắc là liên quan đến các quan điểm tiểu tư sản của Xi-xmôn-đi, người đã lý tưởng hoá quan hệ tư hữu ruộng đất – kiểu gia trưởng. – 118.

[29]  Thuật ngữ "mẹo con buôn" trong nguyên bản tương ứng với một từ rất khó dịch là "Verschacherung". Sách báo phê phán xã hội lúc đó theo truyền thống bắt nguồn từ Phu-ri-ê, đã coi khinh việc buôn bán tư nhân và các kiểu giao dịch chợ búa nói chung, coi đó là công việc xấu xa, hèn hạ nói chung. Trong trường hợp này cũng như ở các chỗ khác của "Bản thảo kinh tế – triết học" có ảnh hưởng nhất định, ít ra là về mặt thuật ngữ, của những người đi trước Mác đối với Mác trong việc lý giải thương mại (xem cả chú thích 8). – 118.

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments