FREDERICK ENGELS: MỘT TƯỢNG ĐÀI KHỔNG LỒ CỦA CHỦ NGHĨA MARX

Ngày hôm nay, 28 tháng 11, là sinh nhật lần thứ 202 của Friedrich Engels, người đã cùng với Karl Marx đồng sáng lập nên những tư tưởng về chủ nghĩa xã hội khoa học, cũng là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời của con người vĩ đại này cùng những đóng góp phi thường của ông.

Mặc dù chủ nghĩa Marx mang tên Marx, nhưng chúng ta đừng bao giờ lãng quên những đóng góp quan trọng của Engels và mối liên kết hữu cơ giữa cuộc đời của hai con người này. Không có gì phải nghi ngờ rằng Engels sở hữu một bộ óc bách khoa, nó bao gồm kiến ​​thức về đủ các lĩnh vực đa dạng như: triết học, kinh tế, lịch sử, vật lý, ngữ văn và khoa học quân sự. Chính bởi kiến thức này về sau đã mang tới cho ông biệt danh ‘The General’.

Thông thường, Engels được coi là người đóng vai trò phụ tá cho Marx. Trong khi Marx là một người khổng lồ theo mọi phương diện, Engels cũng là chìa khóa trong mối quan hệ này. Luôn cực kỳ khiêm tốn, Engels sẽ theo sau Marx. Nhưng khi chúng ta đọc được đống thư từ đồ sộ giữa hai người, những đóng góp xuất sắc của bản thân Engels là không thể bỏ qua. Cùng với Marx, ông là một người khổng lồ về chính trị.



Những năm đầu đời

Một số tiểu sử về cuộc đời của Engels đã được viết, một số là tốt một số tệ. Một trong những cái mới nhất là của kẻ tự phụ Tristram Hunt với tựa đề ‘The Frock-Coated Communist’ (Tạm dịch là: Người cộng sản khoác áo quý ông), thứ nổi bật nên như là một câu chuyện đặc biệt tồi tệ về cuộc đời của Engels.

Nhưng chúng ta có thể mong đợi gì hơn ở loại người đó? Các sử gia tư sản vốn sẵn định kiến, đặc biệt là khi viết về Marx và Engels, và Tristram Hunt nhỏ mọn cũng không ngoại lệ. Chúng ta chẳng có gì để học hỏi từ mấy câu chuyện phiếm của đám trí thức rởm này.

Được sinh ra trong một gia đình chủ xưởng dệt ở Barmen vùng Rhineland, nhưng chàng trai trẻ Engels đã sớm thoát ly khỏi nền tảng giai cấp của mình và đặt mình vào lập trường của giai cấp công nhân. Và kể từ đó, ông đã cống hiến hết mình cho công cuộc lật đổ chủ nghĩa tư bản và giải phóng giai cấp công nhân. Cùng với Marx, người cũng xuất thân từ giai cấp tư sản, ông đã trở thành một trong những lãnh tụ vĩ đại nhất của giai cấp công nhân.

Ở tuổi đôi mươi, Engels đã ‘liên kết công khai’ với Phong trào hiến chương cách mạng và viết nên cuốn sách nổi tiếng Tình cảnh giai cấp công nhân Anh. Ông đã tiếp xúc trực tiếp với phong trào công nhân Anh và chính tại đây Engels đã trở thành một người Cộng sản đích thực.

Trong những tác phẩm đầu tiên của mình, mặc dù chưa hoàn toàn trọn vẹn, ông, như chính Marx nhận xét, “đã đề ra những nguyên tắc chung nhất cho chủ nghĩa xã hội khoa học.”

Trong mối quan hệ với Marx

Engels đã gặp gỡ và trở thành bạn với Marx bắt đầu từ tháng 8 năm 1844. Điều này đã dẫn đến một sự cộng tác, cả về chính trị và lý luận suốt đời, nhằm biến chuyển thế giới. Như Engels sau này nhớ lại:

Vào mùa xuân năm 1845, chúng tôi gặp lại nhau ở Brussels, lúc này Marx đã phát triển một cách đầy đủ lý thuyết duy vật của mình về lịch sử trong các đặc điểm chính của nó… và giờ chúng tôi tự mình áp dụng vào việc xây dựng chi tiết triển vọng mới giành được theo những hướng đa dạng nhất.

Sự hợp tác này đã đơm hoa kết trái trong một loạt công trình lý thuyết, chẳng hạn như Hệ tư tưởng Đức, với đỉnh cao là Tuyên ngôn Cộng sản vài năm sau đó. Trong quá trình này, hai con người này đã chiến đấu với những người có đủ loại ý tưởng và quan niệm khó hiểu.

Engels viết: “Thật đáng hổ thẹn khi người ta vẫn cứ đâm đầu vào những điều vô nghĩa đến vậy… Tôi sẽ không để đám đồng liêu rời đi cho đến khi tôi đuổi được Grün [một nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng] ra khỏi sàn đấu và quét sạch mạng nhện khỏi não của họ.”

Mối quan hệ gắn bó, khăng khít giữa hai người càng trở nên khăng khít. Theo lời của Lenin:

Truyền thuyết cũ chứa đựng nhiều trường hợp cảm động về tình bạn. Giai cấp vô sản châu Âu có thể nói rằng khoa học của họ được tạo ra bởi hai học giả và chiến sĩ, mà mối quan hệ của họ với nhau vượt qua những câu chuyện cảm động nhất của người xưa về tình bạn của con người.

Trotsky, người đã nghiên cứu mọi khía cạnh của cuộc đời và đóng góp của Engels, cũng đưa ra một đánh giá phù hợp về Engels:

Không có gì phải hoài nghi, Engels là một trong những nhân cách tốt nhất, toàn vẹn và cao quý nhất trong sảnh của những vĩ nhân. Tạo dựng lại hình ảnh của anh ấy sẽ là một nhiệm vụ tuyệt vời và đó cũng là một nhiệm vụ lịch sử…

Họ [Marx và Engels] bổ sung cho nhau tốt xiết bao! Hay nói đúng hơn là Engels đã nỗ lực bổ sung cho Marx một cách có ý thức như thế nào; anh ấy cả cuộc đời của mình để cống hiến trọn vẹn cho nhiệm vụ này. Anh coi đó là sứ mệnh của mình và tìm thấy trong đó sự hài lòng. Và điều này không có bóng dáng của sự hy sinh – luôn là chính mình, luôn tràn đầy sức sống, luôn vượt lên hoàn cảnh và lứa tuổi của mình, với những sở thích trí tuệ bao la, với ngọn lửa thiên tài thực sự luôn rực cháy trong tư tưởng.

Trong bối cảnh cuộc sống hàng ngày của họ, Engels tăng lên rất nhiều về tầm vóc so với Marx – mặc dù tất nhiên tầm vóc của Marx không bị giảm đi ít nhất bởi điều này. Tôi nhớ rằng sau khi đọc thư từ giữa Marx và Engels trên chuyến tàu quân sự của tôi, tôi đã nói với Lenin về sự ngưỡng mộ của tôi đối với hình bóng của Engels. Quan điểm của tôi chỉ là thế này, rằng khi nhìn vào mối quan hệ của anh ta với người khổng lồ Marx, chàng Fred tận tụy sẽ tăng lên, chứ chẳng hề giảm đi, về tầm vóc.

Lenin bày tỏ sự tán thành ý tưởng này với sự thông minh, thậm chí vui mừng. Ông yêu quý Engels một cách sâu sắc, và đặc biệt là vì tính cách trọn vẹn và con người toàn diện của ông. Tôi nhớ cách chúng tôi đã xem xét một cách đầy phấn khích bức chân dung của Engels khi còn trẻ, khám phá ra trong đó những đặc điểm nổi bật trong cuộc đời sau này của ông.

Khi bạn đã có đủ văn xuôi của Blums, Cachins và Thorezes [những người theo chủ nghĩa cải cách và Stalin], khi bạn đã nuốt chửng đống vi trùng của sự nhỏ nhen và xấc xược, khúm núm và ngu dốt, không có cách nào tốt hơn để làm sạch phổi hơn bằng cách đọc thư từ của Marx và Engels, cho cả nhau và cho người khác. Trong những ám chỉ và đặc điểm nổi bật của họ, đôi khi ngược đời, nhưng luôn được suy nghĩ thấu đáo và đến nơi đến chốn, có rất nhiều chỉ dẫn, rất nhiều tinh thần sảng khoái và không khí núi rừng! Họ luôn sống trên những đỉnh cao.

Phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật

Khi còn trẻ cả Marx và Engels đều là tín đồ của Hegel, nhà triết học vĩ đại người Đức. Những lời dạy của Hegel không nghi ngờ gì là mang tính cách mạng và phương pháp biện chứng của ông đã trở thành nền tảng cho quan điểm của họ, nhưng không chỉ dừng lại ở việc học hỏi Marx cùng với Engels đã đưa nó lên tầm cao mới khi gạt tính duy tâm ra khỏi nó và lật ngược lại nó. Thông qua Feuerbach, họ trở thành những người duy vật. Triết học duy vật giải thích rằng vật chất là quyết định trong khi ý tưởng chỉ là sự phản ánh thế giới vật chất.

Cá nhân Engels cũng đã có những đóng góp đặc biệt vào triết học của chủ nghĩa Marx thông qua một loạt tác phẩm: Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức, Chống Dühring và Phép biện chứng của tự nhiên.

Engels đã viết trong Chống During:

Marx và tôi khá tốt là những người duy nhất giải cứu một cách có ý thức phép biện chứng [khỏi sự hủy diệt của chủ nghĩa duy tâm, bao gồm chủ nghĩa Hegel] và áp dụng nó vào quan niệm duy vật về tự nhiên… Tự nhiên là bằng chứng cho phép biện chứng, và phải nói rằng khoa học tự nhiên hiện đại đã cung cấp những tài liệu vô cùng phong phú và ngày càng tăng cho phép thử này, và do đó đã chứng minh rằng xét tới cùng, quá trình của tự nhiên là biện chứng chứ không phải siêu hình.

Và trong Ludwig Feuerbach và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức:

Đó là một tư tưởng nền tảng vĩ đại, rằng thế giới không bao hàm bởi một phức hợp của những thứ được làm sẵn, mà là một phức hợp của những quá trình mà trong đó những thứ dường như ổn định không kém gì những ý niệm tinh thần trong đầu chúng ta, những quan niệm, trải qua một sự thay đổi không ngừng của việc hình thành và mất đi… tư tưởng nền tảng vĩ đại này, đặc biệt kể từ thời Hegel, đã thấm nhuần triệt để vào sự hiểu biết thông thường đến nỗi mà về mặt tổng quát giờ đây hiếm khi nào là trái ngược. Nhưng để thừa nhận tư tưởng cơ bản này bằng lời là một chuyện còn áp dụng nó vào thực tế vào chi tiết cho từng lĩnh vực khảo cứu lại là chuyện khác…

Đối với triết học biện chứng không có gì là cuối cùng, tuyệt đối, thiêng liêng. Nó tiết lộ đặc tính nhất thời của mọi thứ và trong mọi thứ; không có gì có thể tồn tại trước nó ngoại trừ tiến trình không ngừng của sự hình thành và diệt vong, thăng hoa bất tận từ thấp đến cao. Và bản thân triết học biện chứng cũng chẳng qua là sự phản ánh đơn thuần của quá trình này trong tư duy não bộ.

Vì vậy, theo Marx và Engels, phép biện chứng là “khoa học về các quy luật vận động chung của cả thế giới bên ngoài lẫn tư tưởng bên trong con người.”

Bộ Tư bản

Với sự thất bại của cuộc cách mạng năm 1848, Marx và Engels buộc phải lưu vong đến Anh, Marx ở London còn Engels ở Manchester. Ở Manchester, Engels buộc phải đến làm việc ở hãng dệt của cha mình, nơi mà ông vẫn nguyền rủa, để có tiền hỗ trợ vật chất cho Marx. Khi hoàn thành tập đầu tiên vào tháng 8 năm 1867, ông đã viết cho Engels:

Vậy là bộ sách này đã xong. Để điều này là có thể tôi nợ riêng mình BẠN! Nếu không có sự hy sinh quên mình của bạn cho tôi, tôi đã chẳng thể nào xoay sở được với sức lao động to lớn mà công việc này đòi hỏi…

Thư từ giữa hai người diễn ra gần như hàng ngày. Giống như Marx, Engels biết nhiều ngoại ngữ và đã thực hiện một cuộc trao đổi thư từ khổng lồ về hàng loạt các câu hỏi. Và thông qua những lá thư này, họ đã trao đổi cho nhau các ý tưởng, tư duy và khám phá của họ trong tất cả sự phong phú. Liệu có kinh ngạc không khi điều này bao gồm 13 tập của Tác phẩm sưu tầm, lên tới 3.957 chữ. Chúng cho thấy sự hấp dẫn trong mối quan hệ chặt chẽ giữa họ và cả công việc chung của họ.

Năm 1870, Engels cuối cùng cũng chuyển đến London để phát triển hơn nữa hợp tác trí tuệ giữa họ cũng như tích cực tham gia vào công việc của Quốc tế thứ nhất. Công việc này có ý nghĩa to lớn trong việc gắn kết những người lao động tiên tiến của tất cả các nước lại với nhau trong một tổ chức.

Đến lúc đó Marx đã viết xong tập đầu tiên của Tư bản và thiết lập cơ sở vật chất cho hai tập tiếp theo. Đáng tiếc là ông đã qua đời trước khi có thể hoàn thành những công việc cuối cùng của mình về kinh tế chính trị và chỉ có Engels mới có thể giải mã được nét chữ khó hiểu của Marx.

Viết cho Lavrov, Engel lo lắng: “Tôi càng lo lắng hơn bởi vì tôi là người duy nhất còn sống có thể giải mã chữ viết tay này cũng như những chữ viết tắt của các từ và câu kia.”

Đặt những nghiên cứu riêng của mình sang một bên, ông đã sử dụng những bản thảo còn lại của Marx để hoàn thành nhiệm vụ khổng lồ mà Marx còn dang dở: chỉnh sửa và xuất bản tập hai và ba của Tư bản. Để hoàn thành nhiệm vụ này, ngày nào ông cũng làm việc từ 10 giờ sáng đến 5 giờ chiều. Ông cũng phải chỉnh sửa tác phẩm và có những bổ sung cần thiết, cố gắng hoàn thành tác phẩm “theo đúng tinh thần của tác giả”.

Liên quan đến khối lượng hai và ba của Tư bản, Lenin đã viết tán thưởng: “Hai tập Tư bản này là công việc của cả hai người đàn ông: Marx và Engels”

Như Trotsky giải thích:

Engels không chỉ là một thiên tài mà còn là một người có tinh thần tận tâm. Trong công việc văn học cũng như thực tiễn, ông không thể chịu đựng được sự cẩu thả, thiếu chính xác và thiếu cẩn trọng. Ông ấy kiểm tra từng dấu phẩy (theo nghĩa đen của thuật ngữ này) trong những di cảo của Marx và tiếp tục thư từ về chủ đề lỗi chính tả thứ cấp.

Người thủ lĩnh

Marx và Engels là những người đầu tiên giải thích rằng chủ nghĩa xã hội chẳng phải là phát minh của những kẻ mơ mộng, mà bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất và đấu tranh giai cấp, và do đó nó cuối cùng đã trở thành một môn khoa học. Engels giải thích, “Nếu không có triết học Đức thì chủ nghĩa xã hội khoa học sẽ không bao giờ ra đời.”

Họ cũng hiểu rõ tầm quan trọng của giai cấp công nhân. Như trong Tình cảnh giai cấp công nhân ở Anh, xuất bản năm 1845, ông đã giải thích: giai cấp vô sản không chỉ là một giai cấp đau khổ mà là một giai cấp đấu tranh cho sự giải phóng chính mình. Trong tác phẩm chung của ông với Marx, Tuyên ngôn Cộng sản, những ý tưởng này đã được đưa vào hiện thực.

Cảm hứng của Marx và Engels ngày càng lớn khi phong trào phát triển. Và sau khi Marx qua đời, Engels đã tiếp tục một mình với tư cách cố vấn và lãnh đạo phong trào xã hội chủ nghĩa châu Âu, khi đó đã trở thành một phong trào quần chúng. Lời khuyên của ông đã được chào đón nhiệt tình, và ông đã rút ra những kiến ​​thức và kinh nghiệm rộng lớn của mình khi về già.

Việc viết cuốn Nguồn gốc của gia đình, Sở hữu tư nhân và Nhà nước được Engels hoàn thành một năm sau khi Marx qua đời, công việc mà ông coi như là một “sự hoàn thành một yêu cầu” từ Marx. Tác phẩm này có thể coi là một trong những tác phẩm nền tảng cho chủ nghĩa xã hội hiện đại.

Vào tháng 6 năm 1884, khi Bernstein và Kautsky phàn nàn với ông ta sức ép của những người philisti “uyên bác” khác nhau trong đảng, Engels trả lời, “điều chính là không nhượng bộ gì và ngoài ra, phải giữ bình tĩnh tuyệt đối”. Trong suốt thời gian này, Ph.Ăngghen đã lên tiếng bảo vệ chủ nghĩa xã hội khoa học, giải đáp những luận điệu và quan niệm sai lầm.

Ông đã viết trong thư gửi Joseph Bloch vào tháng 9 năm 1890:

Theo quan niệm duy vật về lịch sử, yếu tố quyết định sau chót trong lịch sử là sự sản xuất và tái sản xuất đời sống hiện thực. Ngoài điều này, cả tôi và Marx đều không khẳng định điều gì hơn. Do đó nếu ai đó bẻ cong điều này để nói rằng yếu tố kinh tế là yếu tố quyết định duy nhất, thì người đó sẽ biến mệnh đề đó thành một cụm từ vô nghĩa, trừu tượng, mất hẳn ý nghĩa. Hoàn cảnh kinh tế là cơ sở, nhưng còn các yếu tố khác nhau của kiến ​​trúc thượng tầng – các hình thức chính trị của cuộc đấu tranh giai cấp và kết quả của nó, hiến pháp do giai cấp thắng trận lập ra sau một trận chiến thắng lợi, các hình thức luật pháp, và thậm chí là cả phản xạ của tất cả những cuộc đấu tranh thực tế này trong bộ não của những người tham gia, các lý thuyết chính trị, pháp lý, triết học, quan điểm tôn giáo và sự phát triển xa hơn của chúng thành các hệ thống giáo điều,v.v… – cũng thực hiện ảnh hưởng của chúng theo tiến trình của các cuộc đấu tranh lịch sử và trong nhiều trường hợp có ưu thế hơn trong việc xác định hình thức của chúng.

Engels phẫn nộ chống lại những ‘người Marxist’ mới ra lò, những người nghĩ rằng họ hiểu chủ nghĩa Marx và có thể áp dụng nó một cách vô tội vạ mà không cần nắm vững các nguyên tắc của nó.

Chống lại chủ nghĩa cơ hội

Engels đã đóng một vai trò to lớn trong việc giúp định hướng cho các lực lượng của Quốc tế thứ hai. Ông đã tham dự Đại hội lần thứ ba của Quốc tế II tại Zurich. Trong phiên bế mạc, ông phát biểu trước các đại biểu bằng tiếng Anh, sau đó là tiếng Pháp, sau đó là tiếng Đức.

Ông nghiên cứu các tờ báo của các bộ phận và điều kiện cụ thể ở mỗi nước. Ông đã viết thư và nhận được rất nhiều khách đến thăm nhà ông ở đường Regent’s Park. Ông có thể trò chuyện thoải mái bằng tiếng Anh, Pháp, Ý, và có thể đọc tiếng Tây Ban Nha và hầu hết tất cả các ngôn ngữ Slavic và Scandanavian.

Trong những năm cuối của mình ông vẫn không ngại thách thức những ý tưởng cơ hội đã xuất hiện mạnh mẽ trong các phần Đức và Pháp của quốc tế. Ông đã giáng một quả bom vào những kẻ cơ hội với phần giới thiệu mới về Cuộc nội chiến ở Pháp của Marx. Trong đó, ông đã nhấn mạnh rằng nhà nước “không gì hơn là một bộ máy áp bức giai cấp này bởi giai cấp khác, và thực sự thì nền cộng hòa dân chủ cũng chẳng kém gì chế độ quân chủ”.

Bằng một ví dụ về Hoa Kỳ, ông chỉ ra:

Đó là hai băng nhóm đầu cơ chính trị lớn, những kẻ thay nhau nắm quyền lực nhà nước và khai thác nó bằng những phương tiện tham nhũng nhất và cho những mục đích thối nát nhất – và quốc gia chỉ đành bất lực trước chúng, những kẻ bề ngoài là tôi tớ nhưng trên thực tế lại thống trị và cướp bóc nó.

Ông kết thúc phần giới thiệu cuốn sách nhỏ của Marx với những lời sau đây gửi đến những kẻ cơ hội trong Nền dân chủ xã hội Đức:

Cuối cùng, chủ nghĩa philistine của đảng Dân chủ Xã hội lại một lần nữa tràn ngập nỗi kinh hoàng trước những từ ngữ: Chế độ độc tài của giai cấp vô sản. Tốt, tốt lắm, thưa các quý ông, các vị có muốn biết chế độ độc tài này sẽ trông như thế nào không? Hãy nhìn vào Công xã Paris. Đó là Chế độ Độc tài của Giai cấp Vô sản đó!

Ông tiếp tục điều này với một cuộc tấn công vào chủ nghĩa cải cách và “chủ nghĩa nghị viện đần độn” trong đảng. Các quan chức trong ban lãnh đạo Đảng Dân chủ Xã hội đã bỏ qua một số đoạn để giảm bớt sự chỉ trích của ông và khiến ông trở thành người bảo vệ cho chủ nghĩa hòa bình.

Điều mà Engels bác bỏ không phải là hành động cách mạng nói chung, mà là hành động của những cuộc nổi dậy không đúng lúc của một thiểu số nhỏ, và những hình thức đấu tranh đường phố không phù hợp với điều kiện công nghệ mới. Khi biết được những gì đã được thực hiện dưới danh nghĩa của mình, anh ấy đã rất tức giận. Những khuynh hướng cơ hội này sau đó đã làm nảy sinh chủ nghĩa Bernstein và chủ nghĩa xét lại, cuối cùng là sự phản bội vào tháng 8 năm 1914.

Sự khiêm tốn

Trong một bức thư khác gửi Johann Philipp Becker, Engels viết:

Đương khi Marx còn sống, tôi đã làm được những gì tôi phải làm, cây vĩ cầm thứ hai, và tôi nghĩ rằng tôi đã làm điều đó khá tốt. Thật vui khi được ở bên một cây vĩ cầm đầu tiên tuyệt vời như Marx. Và giờ đây tôi thấy thật bối rối khi được kêu gọi để thay thế Marx trong các vấn đề lý thuyết và trở thành tay vĩ cầm đầu tiên, tôi không thể làm như vậy mà không thực hiện những bước ngoặt, điều mà không ai hiểu rõ hơn tôi.

Nhưng chẳng phải đợi một thời kỳ bão bùng hơn đến chúng ta mới thực sự đánh giá được những gì chúng ta đã mất nơi Marx. Không ai trong chúng ta có tầm nhìn bao quát đó, bất cứ khi nào cần hành động nhanh chóng, anh ấy đều làm đúng và giải quyết vấn đề một cách quyết đoán. Đúng vậy, trong thời kỳ hòa bình, đôi khi xảy ra những sự kiện chứng minh tôi đúng, nhưng vào những thời điểm cách mạng, những nhận định của anh ấy, tất cả đều không gì lay chuyển được.

Anh ấy đã viết cho Franz Mehring vào ngày 14 tháng 7 năm 1893:

Khi ai đó có may mắn được làm việc trong bốn mươi năm với một người đàn ông như Marx, người đó thường không nhận được một sự công nhận mà người ngoài nghĩ rằng đó là điều xứng đáng trong đời. Sau đó, nếu người đàn ông vĩ đại hơn chết, người kém hơn dễ dàng bị đánh giá quá cao, và điều này dường như là đúng với trường hợp của tôi ở hiện tại; lịch sử cuối cùng sẽ đặt tất cả về đúng chỗ của nó và cho đến lúc đó chẳng nên đắn đo chi.

Với sự khiêm tốn này, Engels đã thể hiện tình yêu của mình đối với Marx và sự tôn kính đối với ký ức của ông.

Tiên lượng của Engels luôn lạc quan. Chẳng phải hiếm khi mà chúng còn chạy trước diễn biến thực tế của các sự kiện. Nhưng nói chung, đưa ra các dự đoán lịch sử – sử dụng lối diễn đạt kiểu Pháp – hẳn sẽ không đốt cháy một số giai đoạn trung gian?

Xét tới cùng, Engels luôn đúng. Những gì anh ấy nói trong những bức thư trao đổi với F.K. Wischnewetsky về sự phát triển của Anh và Hoa Kỳ chỉ được xác nhận đầy đủ trong thời hậu chiến, bốn mươi hay năm mươi năm sau. Nhưng nó chắc chắn đã được xác nhận! Có ai thậm chí trong số các chính khách tư sản vĩ đại đã dự đoán đúng về tình hình hiện tại của các cường quốc Anglo-Saxon? Lloyd Georges, Baldwins, Roosevelts, chưa kể đến MacDonald, thậm chí cho tới giờ (trên thực tế, hôm nay thậm chí còn hơn hôm qua) vẫn giống như những chú cún con mù lòa bên cạnh những Engels già có tầm nhìn xa. Và tất cả những người theo thuyết Keynes này thật ngu ngốc làm sao khi tuyên bố rằng những dự đoán của chủ nghĩa Marx đã bị bác bỏ!

(Trotsky, Nhật ký tha hương, Tr 27-29)


Rob Sewell, Biên tập viên của SA, 27 tháng 11 năm 2020

Nguồn: Thanh niên Marxist

 

Subscribe
Notify of
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments