24/07/2020 09:20

Lịch sử phát triển tư bản ở Indonesia (Phần thứ ba - Trật tự mới và sự trỗi dậy của giai cấp công nhân Indonesia)

Ted Sprague, In defence of Marxism, ngày 30 tháng 3 năm 2011


 Mặc dù độc lập, nền kinh tế của Indonesia hoàn toàn lệ thuộc vào nhu cầu của chủ nghĩa đế quốc. Sự phát triển kinh tế kéo theo nó sự tăng trưởng công nghiệp hóa và do đó sự phát triển của một giai cấp vô sản hiện đại, non trẻ, những người được định sẵn để trở thành một nhân tố chính trong các sự kiện tương lai.

 

Trật tự mới

 Trật tự mới mang tới sự khai thác ngày càng tăng ở Indonesia. Trong vòng 10 năm, từ 1971 tới 1981, tổng giá trị xuất khẩu đã tăng từ 1,2 tỷ đô la Mỹ lên đến 25,2 tỷ đô la Mỹ, tăng ồ ạt tới 2100% chỉ trong 10 năm.[1]

Dầu mỏ và khí đốt tự nhiên luôn chiếm tới hơn 50% tổng giá trị xuất khẩu cho đến năm 1987, với Nhật Bản là điểm xuất khẩu chính[2]. Khoảng 80% lượng xuất khẩu dầu và khí đốt tự nhiên đã đến Nhật Bản và Hoa Kỳ[3] . Giai đoạn này, từ 1971 đến 1987, thường được gọi là thời kỳ Migas (dầu khí).

 Nhật Bản là thị trường xuất khẩu quan trọng nhất đối với hàng hóa của Indonesia, đặc biệt là từ đầu những năm 1970 cho đến cuối những năm 1980, khi mà xuất khẩu sang Nhật Bản chiếm tỷ lệ cao từ 40 đến 50%. Mức xuất khẩu sang Hoa Kỳ kéo theo Nhật Bản, với tổng giá trị xuất khẩu của Nhật Bản và Hoa Kỳ ở mức 60 đến 70% từ năm 1971 đến 1987.[4] Sự tập trung xuất khẩu hướng tới Mỹ và Nhật Bản đã bắt đầu từ cuối những năm 1960, thời kỳ trùng hợp với sự hủy diệt của chế độ Sukarno và lực lượng PKI trong những năm 1965-66. Điều này nằm trong đường lối chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ đặt Indonesia vào phạm vi ảnh hưởng kinh tế của Nhật Bản.

 Sự thống trị của xuất khẩu xăng dầu bắt đầu giảm sau khi đạt đỉnh vào năm 1981. Từ nửa cuối thập niên 1980, xuất khẩu xăng dầu giảm xuống mức chỉ bằng một phần ba so với năm 1981. Sự suy giảm này chủ yếu là do sự tụt dốc của giá dầu quốc tế những năm 1980, còn được gọi là sự thừa dầu những năm 1980, trong đó giá dầu giảm từ mức đỉnh 35$ mỗi thùng vào năm 1980 xuống dưới 10$ vào năm 1986.

 Sau khi giảm mạnh vào những năm 1980, xuất khẩu xăng dầu đã bị đình trệ trong những năm 1990. Tỷ trọng xuất khẩu của Indonesia đối với dầu mỏ và khí đốt đã giảm xuống còn 20% ​​vào cuối những năm 1990. Dầu mỏ dần mất vị thế như là mặt hàng xuất khẩu chính của Indonesia. Thay thế vị trí của nó là sự gia tăng đáng chú ý trong xuất khẩu gỗ dán cho đến đầu những năm 1990, trong ngành dệt may vào giữa thập kỷ này, và trong các sản phẩm điện tử nửa sau thập niên 1990.[5] Indonesia rõ ràng đã thay thế nền kinh tế xuất khẩu dựa trên nguyên liệu thô sang sản phẩm công nghiệp.

Thị trường xuất khẩu cũng đã thay đổi vào cuối những năm 1990, giao dịch các sản phẩm công nghiệp với các nước Đông Á (Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc) và các nước ASEAN thay thế Nhật Bản trở thành nền tảng thương mại với nước ngoài của Indonesia. Xu hướng của nền kinh tế xuất khẩu Indonesia trong giai đoạn này kéo dài nửa sau thế kỷ XIX đến thế kỷ XX ngày kỷ có thể được tóm tắt trong bảng sau:

 

Giai đoạn

Hàng hóa xuất khẩu chính

Khu vực sản xuất chính

Điểm đến chính của xuất khẩu

Đến những năm 1870

Cà phê

Java

nước Hà Lan

Đến những năm 1920

Đường

Java

Nam và Đông Á

Đến giữa những năm 1960

Cao su

Quần đảo ngoài

(chủ yếu là Sumatra)

Hoa Kỳ

Đến giữa những năm 1980

Dầu khí

Quần đảo ngoài

(chủ yếu là Sumatra)

Nhật Bản

Đến cuối thế kỷ XX

Sản phẩm chế tạo

Java

Đông Á và ASEAN

 

 Trong kỷ nguyên cao su những năm 1930 và kỷ nguyên dầu mỏ những năm 1960, sản xuất cho xuất khẩu tập trung ở các hòn đảo bên ngoài. Tuy nhiên, vào cuối những năm 1980, đã có sự gia tăng xuất khẩu hàng hóa có nguồn gốc từ Java, nơi có lực lượng lao động lớn và khả năng sản xuất hàng công nghiệp để xuất khẩu.

 

Sự tăng trưởng của giai cấp công nhân ở Indonesia

 

 Indonesia đã trải qua một sự thay đổi về các mặt hàng xuất khẩu quan trọng từ nông nghiệp và khai thác sang nhiều loại hàng hóa công nghiệp. Đến cuối những năm 1980, riêng ngành công nghiệp đã đóng góp tới gần 30% tổng mức tăng trưởng GDP, trái ngược với chỉ khoảng 10% đóng góp vào tăng trưởng cuối những năm 1960.[6] Từ 1986 đến 1993, tăng trưởng việc làm trong ngành sản xuất quy mô lớn và vừa mở rộng với tốc độ 9% mỗi năm.[7] Trong cùng thời gian, việc làm trong lĩnh vực nông nghiệp đã trải qua một sự suy giảm. Hàng triệu người chuyển từ nông thôn ra thành thị. Giai cấp vô sản mới này, hàng ngàn người trong số họ bị ném vào các nhà máy, là một trong những lực lượng đầu tiên đã làm rung chuyển chế độ Suharto. Số lượng các cuộc đình công được ghi nhận đã tăng trong những năm 1990, từ 61 vào năm 1990 lên 300 vào năm 1994. Một tỷ lệ cao các cuộc đình công xảy ra trong sản xuất, đặc biệt là các ngành dệt may, quần áo và giày dép lương thấp.[8]

 

Bảng 6. GDP phi dầu / khí và tỷ lệ việc làm theo ngành, 1976-2007 (tỷ lệ phần trăm của tổng số)[9]

 

Chia sẻ GDP phi dầu / khí (%)

Chia sẻ việc làm (%)

 

1976

1986

1997

2007

1976

1986

1997

2007

Nông nghiệp

36,8

26,7

16.4

14.9

61,6

55,1

41,2

41,2

Các ngành khác

63.2

73.3

83,4

85.1

38,4

44,9

58,8

58,8

Chế tạo

10.6

17.8

28,4

26,9

8.4

8.2

12.9

12.4

Khai thác mỏ

1.3

1.8

3,3

4.2

0,2

0,6

1

1

Tiện ích

0,3

0,3

0,5

0,7

0,1

0,2

0,2

0,2

Xây dựng

5,9

6,3

8,5

6,7

1.7

2.7

4,8

5,3

Thương mại, khách sạn

21,5

19,7

19.2

18,6

14.4

14.3

19.8

20,6

Giao thông vận tải

3.6

5.0

8,7

10.1

2.7

3.0

4,8

6.0

Tài chính

3,3

7,0

8,7

10.1

0,2

0,5

0,8

1,4

Chính quyền

6,7

8,6

5,6

4,4

3,4

4.6

4,7

3.7

Dịch vụ khác

10,0

6,9

4.0

5,6

7.3

10,0

9,8

8.3

 

 

 Trong giai đoạn 21 năm từ 1976 đến 1997, GDP phi dầu / khí tăng trung bình 7,5% mỗi năm. Nông nghiệp theo phần trăm GDP giảm dần từ 36,8% năm 1976 xuống 16,4% năm 1997, trong khi GDP sản xuất tăng từ 10,6% năm 1976 lên 28,4% năm 1997. Tỷ lệ việc làm trong ngành nông nghiệp cũng giảm dần từ 61,6% năm 1976 lên 41,2% vào năm 1997, trong khi tỷ lệ việc làm trong lĩnh vực sản xuất tăng từ 8.4% lên 12.9% trong cùng kỳ. Ở đây chúng ta đã thấy làm thế nào mà các công nhân sản xuất đang trở nên phổ biến ở Indonesia, cả về số lượng cả về đóng góp của họ cho GDP trên mỗi đầu người. Năm 2007, trong khi chỉ chiếm 12,4% việc làm, công nhân sản xuất đóng góp 26,9% vào GDP; trong khi đó ngành nông nghiệp với 41,2% việc làm chỉ đóng góp 14,9% GDP.

 

 

 Hiện trạng việc làm phổ biến nhất ở Indonesia là lao động tự do, chiếm tới 41% trong tổng số năm 2007. Người lao động tự do hoặc làm việc một mình hoặc với sự giúp đỡ từ lao động gia đình không được trả lương. Do đó, hai loại này trong thực tế trùng lặp với nhau tạo ra một khu vực phi chính thức khổng lồ chiếm tới khoảng 60-70%, tương đương khoảng 60-70 triệu người, những người buộc phải tạo ra công việc ít ỏi cho riêng mình vì thiếu việc làm.

 

Bảng 5. Xu hướng của tình trạng việc làm, 1986-2007 (% tổng số việc làm)[10]

Hiện trạng

1986

1996

2003

2007

Lao động tự do

45,9

46,9

42,6

41.3

Nhân công gia đình không được trả lương

27.1

17,5

19,5

17.3

Tổng số lao động không có lương

73,0

64,4

62.1

58,6

Người làm công ăn lương có biên chế

19,7

27,5

26.2

28.1

Người làm công ăn lương không thường xuyên

6,7

6,7

8,6

10,4

Tổng số người làm công ăn lương

26.4

34,2

34.8

38,5

Chủ sở hữu lao động

0,7

1,4

3.0

2.9

Nhìn chung, chúng ta đã chứng kiến ​​sự gia tăng của những người làm công ăn lương, cả thường xuyên và không thường xuyên, từ tổng số 26,4% năm 1986 lên 38,5% năm 2007, và sự sụt giảm tương ứng ở những người lao động trong khu vực phi chính thức (lao động tự do và nhân công gia đình không được trả lương ) từ 73% xuống 58,6%. Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, số lượng người làm công ăn lương có biên chế đã giảm xuống 26% vào năm 2003, nhưng nó đã lấy lại mức trước khủng hoảng vào năm 2005 và sau đó được cải thiện lên 28% vào năm 2007. Chúng ta có thể thấy rằng sự suy giảm này đã được hấp thụ bởi nhân công gia đình không được trả lương, vì những người lao động bị sa thải phải phụ thuộc vào gia đình họ để có được việc làm nhằm trang trải chi phí sinh hoạt. Người làm công ăn lương có biên chế là phổ biến hơn trong sản xuất và dịch vụ. Hơn 40 phần trăm công nhân trong các lĩnh vực phi nông nghiệp là công nhân thường xuyên, so với chỉ 6 phần trăm trong nông nghiệp.[11] Giai cấp vô sản ở Indonesia đang tăng trưởng rõ rệt về số lượng cũng như vị thế kinh tế trong hệ thống tư bản chủ nghĩa.

Sự công nghiệp hóa nhanh chóng đã dẫn đến sự phát triển của giai cấp công nhân cũng đã thu hút một lớp phụ nữ to lớn vào hàng ngũ của nó. Bất chấp sự bóc lột tàn bạo, sự hòa nhập mạnh mẽ của các cô gái trẻ từ các ngôi làng vào các nhà máy, công việc và cuộc đấu tranh của họ đã thay đổi hoàn toàn đời sống, địa vị xã hội và sự tự tin của phụ nữ Indonesia, những người trước kia chỉ biết “ngoan ngoãn” trong nhà. Họ không chỉ là nạn nhân thụ động của sự bóc lột và bất công. Họ đã trở thành tác nhân tích cực cho sự thay đổi xã hội của chính họ, và thường họ rất có tiếng nói hơn so với các đồng nghiệp nam của họ. Không ít người đã trở thành lãnh đạo của các đoàn thể và các cuộc đấu tranh quần chúng.

 Một lớp công nhân khác khá quan trọng là những người lao động nhập cư ở Indonesia. Năm 2008, số lao động nhập cư Indonesia là khoảng 5,8 triệu người; con số này tương đương với một nửa tổng số việc làm trong các ngành sản xuất quy mô vừa và lớn.[12] Phần lớn trong số họ là nữ và làm việc trong các lĩnh vực không chính thức như người giúp việc. Phần còn lại làm việc trong các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp như lao động ban ngày. Những công nhân này đã mang về một lượng dự trữ ngoại hối đáng kể, lên tới 5 tỷ đô la Mỹ năm 2006[13] , gấp đôi giá trị xuất khẩu nông sản. Mặc dù nhiều người trong số họ làm việc trong điều kiện phân tán do tính chất công việc của người giúp việc, họ đã thành lập công đoàn để đấu tranh cho quyền lợi của mình.

[Còn tiếp...]

(Loạt bài viết bao gồm 4 phần: Phần 1, Phần 2, Phần 3Phần 4)


[1] Kano, Tr 98.

[2] Kano, Tr 100.

[3] Kano, Tr 104.

[4] Kano, Tr 92.

[5] Kano, Tr 100.

[6] Chris Manning, Lao động chuyển đổi Indonesia (Cambridge: Nhà xuất bản Đại học Cambridge, 1998) Tr 62.

[7] Manning, Tr 108.

[8] Manning, Tr 215.

[9] Shafig Dhanani và cộng sự, Thị trường Lao động Indonesia (New York: Routledge, 2009) Tr 25.

[10] Dhanani, Tr 27.

[11] Dhanani, Tr 29.

[12] Dhanani, Tr 36.

[13] Dhanani, Tr 36

Nguồn
Chia sẻ

CHỦ NGHĨA ĐẾ QUỐC, GIAI ĐOẠN TỘT CÙNG CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN - CHƯƠNG I

Lenin, ngày 25 tháng 6 năm 1916   I. Sự tập trung sản xuất và các tổ chức độc quyền   Sự phát triển vượt bậc của các ngành công nghiệp và quá trình tập trung cực kỳ nhanh chóng của sản xuất...

Xem bài viết

Kiếm lợi nhuận từ cái chết: chính sách tân tự do của Modi trong ứng phó với đại dịch

Tithi Bhattacharya, Spectre Journal, 3 tháng 5 năm 2021   Chúng ta hãy làm rõ ngay từ đầu rằng: những gì hiện đang xảy ra ở Ấn Độ là thảm sát, và nó được tổ chức bởi một người đàn ông đã có kinh...

Xem bài viết

Chủ nghĩa Marx với vấn đề dân tộc (Phần IV)

Phần thứ tư: Vấn đề dân tộc sau cách mạng tháng 10   Lênin đã viết:   “Những đòi hỏi dân chủ khác nhau, bao gồm quyền tự quyết, không phải là một phần quyết định, mà chỉ là một phần nhỏ của phong...

Xem bài viết

Thu nhập cơ bản phổ quát: giấc mơ không tưởng hay cơn ác mộng của chủ nghĩa tự do?

Adam Booth, IMT, 10 tháng 2, 2017   Thu nhập cơ bản phổ quát (UBI), tức là một khoản chi trả vô điều kiện dành cho mọi công dân, trong những năm gần đây đã trở thành một phần của ‘hệ tư tưởng kinh tế mang tầm thời đại’,...

Xem bài viết

TIỀN CÔNG, GIÁ CẢ VÀ LỢI NHUẬN (1865)

*Mục lục:      * Lời mở đầu. Sản xuất và tiền công Sản xuất, tiền công và lợi nhuận Tiền công và tiền Cung và cầu Tiền công và giá cả Giá trị và lao động Sức lao động Sự sản xuất...

Xem bài viết

Chủ nghĩa Marx với vấn đề dân tộc ( Phần I)

  Lời tựa   Vấn đề dân tộc - theo nghĩa là sự áp bức với các quốc gia và dân tộc thiểu số - là đặc điểm tiêu biểu của chủ nghĩa tư bản kể từ khi ra đời cho tới nay và luôn chiếm một vị trí trung tâm trong...

Xem bài viết